Mạng sống quý giá này có thể chấm dứt bất kỳ lúc nào, nhưng điều kỳ lạ là hầu hết chúng ta đều không thường xuyên nhớ đến điều đó!Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Hãy tin rằng bạn có thể làm được, đó là bạn đã đi được một nửa chặng đường. (Believe you can and you're halfway there.)Theodore Roosevelt
Chiến thắng hàng ngàn quân địch cũng không bằng tự thắng được mình. Kinh Pháp cú
Hoàn cảnh không quyết định nơi bạn đi đến mà chỉ xác định nơi bạn khởi đầu. (Your present circumstances don't determine where you can go; they merely determine where you start.)Nido Qubein
Thành công là khi bạn đứng dậy nhiều hơn số lần vấp ngã. (Success is falling nine times and getting up ten.)Jon Bon Jovi
Đừng than khóc khi sự việc kết thúc, hãy mỉm cười vì sự việc đã xảy ra. (Don’t cry because it’s over, smile because it happened. )Dr. Seuss
Hạnh phúc và sự thỏa mãn của con người cần phải phát xuất từ chính mình. Sẽ là một sai lầm nếu ta mong mỏi sự thỏa mãn cuối cùng đến từ tiền bạc hoặc máy điện toán.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Trong sự tu tập nhẫn nhục, kẻ oán thù là người thầy tốt nhất của ta. (In the practice of tolerance, one's enemy is the best teacher.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Sự thành công thật đơn giản. Hãy thực hiện những điều đúng đắn theo phương cách đúng đắn và vào đúng thời điểm thích hợp. (Success is simple. Do what's right, the right way, at the right time.)Arnold H. Glasow
Người thành công là người có thể xây dựng một nền tảng vững chắc bằng chính những viên gạch người khác đã ném vào anh ta. (A successful man is one who can lay a firm foundation with the bricks others have thrown at him.)David Brinkley

Trang chủ »» Danh mục »» TỦ SÁCH RỘNG MỞ TÂM HỒN »» Chánh nhân vãng sinh trước tiên là gì? »» Chánh nhân vãng sinh trước tiên là gì? »»

Chánh nhân vãng sinh trước tiên là gì?
»» Chánh nhân vãng sinh trước tiên là gì?

(Lượt xem: 1.376)
Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục 

       

Sử Dụng Thất Giác Chi (Thất Bồ Đề Phần) Trong Công Phu Môn Niệm Phật - Chánh nhân vãng sinh trước tiên là gì?

Font chữ:

Trong phẩm Ba Bậc Vãng Sanh trước, kinh chú trọng phẩm vị sau khi vãng sanh, chứ chưa bàn chi tiết về những nhân hạnh để được vãng sanh. Trong phẩm này, kinh bàn rộng thêm về những hạnh tu để được Chánh Nhân Vãng Sanh; cho nên phẩm này được đặt tên là “Chánh Nhân Vãng Sanh”. Hai phẩm Ba Bậc Vãng Sanh và Chánh Nhân Vãng Sanh này cùng tạo thành cái cốt lõi của kinh, hỗ trợ lẫn nhau. Tuy phẩm Ba Bậc Vãng Sanh chỉ nói đến sở hạnh của Ba Bậc Vãng Sanh, nhưng đó cũng là một phần của Chánh Nhân Vãng Sanh. Nói cách khác, Ba Bậc Vãng Sanh chính là quả báo của những Chánh Nhân Vãng Sanh được nói đến trong phẩm này.

Ða số các Chánh Nhân được nói trong phẩm này đều giống với các Tịnh nghiệp Tam Phước được dạy trong Quán kinh. Trong Quán kinh, đức Phật dạy: “[Muốn] sanh về nước ấy thì nên tu ba phước: Một là: hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết, tu mười thiện nghiệp. Hai là: thọ trì Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi. Ba là: phát Bồ Ðề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Ðại Thừa, siêng năng tinh tấn tu hành. Ba sự ấy gọi là Tịnh nghiệp.” Rồi Phật bảo Vy Ðề Hy : “Người biết hay chăng? Ba thứ nghiệp ấy chính là Chánh Nhân tịnh nghiệp của quá khứ, hiện tại, vị lai tam thế chư Phật”.

Quán kinh còn dạy: “Lại có ba hạng chúng sanh sẽ được vãng sanh. Những gì là ba? Một là: từ tâm chẳng giết, đủ các giới hạnh. Hai là: đọc tụng kinh điển Phương Ðẳng Ðại Thừa. Ba là: tu hành sáu niệm, hồi hướng phát nguyện, nguyện sanh cõi ấy. Ðầy đủ các công đức đó trong một ngày cho đến bảy ngày thì được vãng sanh”. Sáu niệm được nói trong Quán Kinh là: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên.

So sánh những điều trên được ghi chép trong Quán kinh với nội dung trong Phẩm Chánh Nhân Vãng Sanh của kinh này, chúng ta thấy cả hai kinh đều dạy nhiều điểm thật giống hệt nhau. Trong Phẩm Chánh Nhân Vãng Sanh của Kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ, trước hết kinh nói đến Bậc Chánh Nhân Thứ Nhất, kinh chép : “Lại nữa A Nan, nếu như có người thiện nam, thiện nữ, nghe kinh điển này, thọ trì đọc tụng, biên chép cúng dường, ngày đêm không ngừng, cầu sinh Cực Lạc, phát tâm Bồ Ðề, giữ gìn giới cấm, vững vàng không phạm, căn lành đã làm, đều ban cho họ, khiến họ an lạc, nhớ niệm Ðức Phật Di Ðà phương Tây, cùng quốc độ Ngài. Người này mạng chung, sắc tướng như Phật, mỗi mỗi trang nghiêm, sinh về cõi báu, mau được nghe pháp, hằng bất thối chuyển.”

Ðoạn kinh văn mở đầu phẩm này nói về Chánh Nhân thứ nhất, bao gồm pháp tu niệm Phật dành cho hành giả có thể đặng tinh tấn lớn, ngày đêm tu hành. Chánh Nhân thứ nhất gồm có sáu điều : (1) Thọ trì đọc tụng kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ này, (2) Cầu sinh Cực Lạc, (3) Phát tâm Bồ Ðề, (4) Giữ gìn giới cấm, (5) Lợi lạc hữu tình, (6) Nhớ niệm Ðức Phật Di Ðà.

· Điều thứ 1 : Vừa mới mở đầu đề tài Chánh Nhân Vãng Sanh, Phật liền bảo : Thọ trì đọc tụng kinh điển này ! Đấy đã nói rõ thọ trì đọc tụng kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ là Chánh Nhân đầu tiên hơn hẵn năm điều khác để được vãng sanh. Do đó, chúng ta muốn được vãng sanh, không thể không thọ trì, đọc tụng kinh điển này. Người thọ trì, đọc kinh điển này thì được Phật gọi là “thiện nam, thiện nữ.”

Kinh Vô Lượng Thọ bảo : “Thọ trì đọc tụng kinh điển này.” Quán kinh nói: “Ðọc tụng Ðại thừa.” Kinh Di Đà ghi : “Xá-Lợi-Phất! Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhơn duyên mà được sanh về cõi đó.” Đấy đã chỉ rõ “thiện nam, thiện nữ” niệm Phật cầu vãng sanh chính là người thọ trì đọc tụng kinh điển này !

Vì sao người thọ trì, đọc tụng kinh điển Đại Thừa này lại được gọi là “thiện nam, thiện nữ” ? Quán Kinh Ước Luận bảo: “Chẳng đọc Ðại Thừa chẳng hiểu nổi tâm Phật. Chẳng hiểu Phật tâm thì chẳng khế hợp Phật trí. Chẳng khế hợp Phật trí thì dù có sanh cõi kia cũng chẳng thấy được Phật.” Ý nói: Người vãng sanh Cực Lạc, nếu không rõ Phật trí, thì dù sẽ sanh trong biên địa nghi thành, như Phẩm Biên Địa Nghi Thành ghi : Người sanh trong biên địa nghi thành, suốt năm trăm không được thấy Phật, không được nghe pháp, cũng không được cúng dường chư Phật và chư Bồ tát, không được tu tập các pháp công đức của Bồ tát v.v... Đó chính là cái quả báo của người do không thọ trì đọc tụng kinh điển này nên không hiểu rõ Phật trí. Vì thế, ngay vừa mới mở đầu phẩm Chánh Nhân Vãng Sanh, kinh liền dạy: “Nghe kinh điển này, thọ trì đọc tụng”.

Chúng ta học kinh Phật phải biết nhìn trước, ngó sau thì mới biết phải tu như thế nào mới đúng ý chỉ của kinh; chớ nên học Phật một cách thờ ơ, hời hợt, chẳng rõ giáo nghĩa của Như Lai mà tu bừa bãi mà gặp tai họa.

Mấy bữa trước, có một đồng tu nói với tôi là có một đứa cháu gái tu hành rất rất chăm chỉ, lại rất muốn cứu độ chồng con v.v… Cô ấy làm nhiều chuyện tốt như vậy mà sao lại tự nhiên phát điên phát cuồng, lúc nào cũng gặp ma, gặp quỷ, gặp thường thấy ánh sáng vàng chiếu rực, trong tai lại luôn vang ra tiếng niệm Phật mà chẳng thể tự chủ, tinh thần điên đảo, thân thể suy nhược, đi đứng chẳng vững v.v… Nguyên nhân do đâu mà tu hành siêng năng mà lại rơi vào hoàn cảnh này ? Do chẳng thọ trỉ đọc tụng kinh điển này ! Đã chẳng đọc kinh này, chẳng nghe giảng kinh này, lại còn tu xen tạp đủ thứ, nên mới sanh ra cái tướng trạng này.

Không thọ trì đọc tụng kinh điển Đại Thừa là cách tu mê tín ! Mê tín là gì? Mê tín là tin bậy tin cuồng, tin tưởng những gì người khác nói một cách mê muội, mù quáng, tin với sự không hiểu biết tường tận. Thí dụ, chúng ta tin pháp môn niệm Phật vãng sanh, rồi cùng nhau vào tu, nhưng chẳng hiểu tánh, tướng và dụng của pháp môn này là gì, nên càng tu càng sanh thêm vọng tưởng, điên đảo, nên mới bị ma dựa vào vọng tâm của mình để quấy nhiễu như vậy. Đấy không phải là tu mê tín đó sao ? Người tu hành theo kiểu mê tín, thì chắc chắn chẳng phải là “thiện nam tử, thiện nữ nhân” được nói trong phẩm kinh này !

Nói cách khác, người tu Tịnh đột thọ trì, đọc tụng kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ chính là Chánh Nhân Vãng Sanh trước hết trong sáu điều của Chánh Nhân Vãng Sanh lần lượt ghi trong kinh này. Thật thà mà nói, năm điều tiếp theo “cầu sinh Cực Lạc, phát tâm Bồ Ðề, giữ gìn giới cấm, lợi lạc hữu tình, nhớ niệm Ðức Phật Di Ðà” đều phải do từ việc thọ trì đọc tụng “kinh điển này” mà lần lượt phát khởi, thì đó mới là Chánh Nhân.

“Kinh điển này” chính là “Phật Thuyết Ðại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác Kinh”, là một kinh Tịnh Ðộ bậc nhất mà cũng chính là Trung Bổn Hoa Nghiêm. Vì “kinh điển này” là phương tiện bậc nhất có thể cứu vớt chúng sanh trong đời mạt pháp, nên đức Thế Tôn đặc biệt lưu lại “kinh điển này” tồn tại ở thế gian thêm một trăm năm nữa trong thời tương lai, sau khi kinh đạo diệt tận. Trong “kinh điển này”, đức Thế Tôn nói : Mãi cho đến khi chánh pháp bị diệt sẽ có những chúng sanh đã từng gần gũi vô lượng chư Phật trồng các cội đức, và do đức Như Lai kia gia trì oai lực, nên mới gặp được một pháp môn quảng đại thư thế này. Lời tựa “Phật Thuyết Ðại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác Kinh” đã nêu rõ toàn bộ ý chỉ của kinh này:

- “Phật” là trí giả, là biết rõ tự thân và hoàn cảnh sinh hoạt của tự thân, nên gọi là “giác ngộ.” Chữ “Phật” trong đề tựa này là chỉ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni của chúng ta, cũng chính là A Di Đà Phật. Vì sao ? Vì bộ kinh đặc biệt này là do hai vị đại đạo sư này cùng thuyết giảng một lúc.

- “Đại thừa” là cỗ xe lớn có khả năng chuyên chở nhiều người từ nơi này đến nơi khác. Trong kinh Phật thường dùng con trâu trắng lớn hay con voi trắng sáu ngà để biểu tượng cho sức mạnh của Đại thừa có thể đưa chúng sanh ra khỏi luân hồi sanh tử, sang bờ kia giải thoát. Chữ “Đại thừa” trong đề tựa này chỉ rõ nội dung giáo dục của đức Phật trong kinh này, có thể giúp cho con người thấy rõ sự hư giả và ác khổ của thế gian, và sự chân thật và an lạc của Tây Phương Cực Lạc thế giới, khiến hết thảy chúng sanh đều phát lòng mong muốn xả giả, nhập thật, quyết định niệm Phật vãng sanh thoát ra khỏi tam giới, trở về với Chân tâm Bổn tánh của Tự thân. Nếu chúng ta chẳng đọc tụng kinh điển này, chẳng hiểu rõ ý chỉ của pháp môn này, thì mọi sự tu hành đều trở nên uổng phí, thậm chí có thể gây ra tai hại về sau. Tại hại ấy do đâu gây ra ? Chấp tướng, nhận lầm giả tướng là thật tướng, nên trái nghịch với Bồ đề đạo.

- “Vô Lượng Thọ” là Chân tâm Bổn tánh của Tự thân vốn đầy đủ hết thảy các thứ vô lượng như: trí huệ vô lượng, hào quang vô lượng, thọ mạng vô lượng, tài nghệ vô lượng, đức năng vô lượng, thanh tịnh vô lượng v.v... Kinh này lấy chữ “Vô Lượng Thọ” làm đại biểu để chỉ cho hết thảy các thứ vô lượng mà người nhiếp giữ, thọ trì kinh này đều sẽ đạt đến chỗ đồng nhất với Phật A Di Đà. Lại do vì trong tất cả các thứ vô lượng ấy, thọ mạng là điều trọng yếu nhất; bởi do có thọ mạng vô lượng thì mới có thể thọ dụng các thứ vô lượng khác; cho nên chữ “Vô Lượng Thọ” được dùng làm đại biểu cho hết thảy các thứ vô lượng sẵn có trong Chân tâm Bổn tánh của mỗi chúng sanh.

- “Trang nghiêm” là nói đến hoàn cảnh cuộc sống và thân tướng đều đầy đủ vô lượng các thứ tốt đẹp, không thiếu một mảy may.

- “Thanh tịnh” là rời khỏi mọi ô nhiễm ở nơi thân tướng và hoàn cảnh thế gian bằng cách viễn ly tâm tham, tâm sân, tâm si, tâm kiêu mạn và tâm nghi hoặc.

- “Bình đẳng giác”: “Bình đẳng” là không có sai biệt, không có tâm phân biệt. “Giác” là giác ngộ, không còn mê lầm.

Chữ “Thanh tịnh Bình đẳng Giác” trên đề tựa của kinh này dạy rõ: trong sinh hoạt đời thường, chúng ta cần phải lấy tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng và tâm giác ngộ để đối xử với tất cả mọi người, mọi sự và mọi vật.

“Kinh” là giáo lý và phương pháp mà Phật tuyên nói, là quyển sách giáo khoa chính xác nhất, mãi mãi không bao giờ thay đổi, cũng không bị hạn chế bởi bất cứ điều kiện nào của thời gian và không gian. Hiện nay, trong những buổi học tập kinh điển này, chúng ta phần lớn đều là trích dẫn những ý kiến từ tập sách Chú Giảng Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác của Hoàng lão cư sĩ, cùng với những lời thuyết giảng của Hòa Thượng Tịnh Không và chư Tổ Sư Đại Đức về pháp môn niệm Phật, nhằm giúp chúng ta khai Phật tri kiến, thị Phật tri kiến, ngộ Phật tri kiến và nhập Phật tri kiến một cách đúng đắn, không rời khỏi ý chỉ của chư Phật được ghi chép trong kinh điển này.

Trong tập sách Chú Giảng, lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ đã khéo léo, tỉ mỉ trích dẫn, phân tích và giảng giải ý nghĩa của từng câu, từng chữ trong kinh văn, từ chỗ thô tháo cho đến mức u huyền thâm sâu, giúp cho mọi căn cơ đều có thể hiểu tường tận Như Lai chân thật nghĩa, khiến mọi người đều có thể kiến lập Chánh Nhân Vãng Sanh trong bước đầu tu học. Đây thật là một của báu vô tận trong kho tàng Phật giáo mà trong trăm, ngàn, vạn, ức kiếp khó gặp, khó thấy; đấy đã nêu rõ thiện căn, phước đức, nhân duyên của người tin ưa, thọ trì kinh này vô cùng thù thắng. Nếu trong bước đầu tiên tu học pháp môn này, mà chúng ta bắt đầu ngay từ việc thọ trì, đọc tụng kinh điển này, thì chắc chắc các hạnh sau này đều sẽ có thành tựu chân thật, chẳng đến nổi uổng phí công phu, thậm chí có thể gặp tai hoạ như đã nói.

Hòa Thượng Tịnh Không bảo, hai vị đại lão Cư sĩ Hạ Liên Cư và Hoàng Niệm Tổ chính là ứng thân của Phổ Hiền và Quán Thế Âm Bồ Tát. Phật, Bồ tát thật sự luôn thị hiện khắp nơi, hoằng truyền kinh điển này để phổ độ hàm linh ngay trong thời mạt pháp, lúc thế gian đang chìm trong nhọn lửa lớn của tam độc. Thật là một cơ duyên vi diệu nhiệm mầu đáng mừng, đáng tin, nếu ai nhận biết mà nương vào nhân duyên khó gặp, khó thấy này, ắt sẽ mau đắc độ, vãng sanh Cực Lạc. Lại nữa, vì tai nghe không bằng mắt thấy, vì miệng nói không bằng hành động chứng minh cụ thể, nên cả hai vị Chánh Sĩ Hạ Liên Cư và Hoàng Niệm Tổ đã biểu diễn vãng sanh một cách hy hữu để chứng tín rằng, những gì ghi chép trong kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ đều là sự thật, chẳng phải là lời nói suông không có chứng cớ.

Hòa Thượng Hải Hiền là một lão sư người Trung Hoa, xuất gia năm 20 tuổi với một Thiền Sư. Vì ngày dốt chữ, chẳng thể đọc tụng kinh, nên sư phụ chỉ dạy Ngài niệm một câu “A Di Đà Phật.” Ngài tuân lời Sư phụ, suốt 92 năm chỉ thật thà buộc chặt tâm vào một câu Phật hiệu; nhờ đó mà đã hơn mười lần gặp Thánh tướng của A Di Đà Phật hiện ra. Ngài cầu xin Phật mau tiếp dẫn ngài vãng sanh; nhưng Phật bảo ngài tu quá giỏi nên phải ở lại thế gian này để biểu tướng, nhằm cảm hóa chúng sanh. Lúc sắp lâm chung, lão sư biết trước ngày giờ, thân không tật bệnh, tự tại vãng sanh, hưởng thọ 112 tuổi. Hòa Thượng Tịnh Không tuyên bố, lão Hòa Thượng Hải Hiền chính là Phổ Hiền Bồ tát thị hiện để biểu tướng cho chúng ta xem diệu dụng của pháp “Nhất Hạnh Tam Muội.” Hòa Thượng Hải Hiền suốt đời chỉ dùng một câu Phật hiệu mà có thể thu trọn lục độ vạn hạnh và Phổ Hiền Thập Đại Nguyện Vương mà viên chứng Vô Thượng Bồ Đề. Đấy đúng thật như lời Phật đã dạy trong phẩm Phước Huệ Được Nghe: “Nếu các hữu tình sẽ làm Phật, Vượt hạnh Phổ Hiền lên bờ giác”.

Tập sách chú giải của cụ Hoàng là kết tập của nhiều kinh điển đại thừa và cũng là tổng hợp của nhiều ý kiến chú giải của các vị cổ đức, làm cho Thánh ý trong kinh càng thêm tỏ rõ, tường tận và đầy đủ, rạng ngời giáo pháp và bản tâm của Đấng Đại Từ Phụ A Di Đà Phật; đó là đem hết thảy năm thừa (nhân, thiên, tiểu, trung và đại) quy nhập vào trong một pháp Nhất Thừa, độ trọn ba căn, gồm thu vạn loại mà vẫn không bị rơi vào Nhị biên. Thử hỏi trong tám vạn, bốn ngàn pháp môn của đức Thế Tôn, chúng ta tìm đâu là một pháp giống như vậy chứ ? Nhất định là chẳng có ! Ðiểm đặc biệt hơn nữa là cụ Hoàng đã hết sức khéo léo dung hội những quan điểm khác nhau của Thiền, Tịnh và Mật, khiến cho người đọc thấy rõ pháp vị dung thông, nhất như giữa các pháp môn, làm nổi bật bản hoài vĩ đại của chư Phật là: khai, thị, ngộ và nhập tri kiến Phật cho chúng sanh, khiến chúng sanh có thể kiến lập Chánh Nhân Vãng Sanh. Vì lẽ ấy, Hòa Thượng Tịnh Không đã nhiều lần nhiệt liệt ca ngợi công trình tâm huyết này của cụ Hoàng.

Hàng hậu học chúng ta sau khi gặp được một bộ kinh vô thượng viên đốn như vậy, được đọc một tác phẩm chú giải giá trị như thế mà lại còn được nghe những bài giảng quyền biến của Hòa Thượng Tịnh Không, không khỏi sanh lòng mong mõi mọi người đều có nhân duyên cùng thụ hưởng pháp lạc nơi vi diệu pháp này. Người tu hành cũng ví như kẻ vượt biển, diệu pháp của đức Phật Di Đà được ghi chép trong Kinh Vô Lượng Thọ được xem như là cái địa bàn dùng để chỉ phương hướng. Trên biển cả mênh mông, bầu trời lại vắng ánh mặt trời, mặt trăng soi hướng, nếu người vượt biển chẳng mang theo địa bàn này ắt sẽ bị thất lạc hướng mình muốn đến. Do đó, chúng ta thấy phần đông những người niệm Phật gặp phải chướng ngại lớn, đều là do chẳng biết dùng kinh điển điển này làm địa bàn chỉ hướng !

Vì lẽ đó, trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn nhiều lần khuyên bảo chúng ta phải thường ghi nhớ kinh điển này không dứt, mới nhanh chứng đạo quả ! Đức Thế Tôn bi tâm vô lượng, nhiếp trọn hết thảy chúng sanh, không bỏ sót một ai, nên cực lực khuyên gắng chúng sanh trì niệm kinh này, bởi vì kinh này dạy vô thượng đại pháp nhất thừa nguyện hải, sáu chữ hồng danh. Do vậy, chúng ta thọ trì kinh này thì phải phụng hành đúng theo lời đức Phật dạy, thật sự vì sanh tử phát Bồ Ðề tâm, tin sâu, nguyện thiết, trì danh hiệu Phật, ròng rặc chỉ giữ một câu Phật hiệu trong mọi niệm thì nhất định sẽ “như người nhiễm hương, thân có mùi hương.” Lúc lâm chung, chắc chắn sẽ thấy A Di Đà Phật, tướng hảo quang minh, hiện thân đến tiếp dẫn, từ bi gia hựu, khiến tâm chẳng loạn, quyết định được vãng sanh, chứng lên bất thoái, sanh trọn vẹn cả bốn cõi Tịnh Ðộ, rốt ráo Niết Bàn.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vì muốn cứu quần sanh, muốn ban cho họ cái lợi chân thật, nên mới nói ra kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ này. Trong kinh này, Ngài đã nêu rõ hoàn cảnh sinh hoạt vô cùng tốt đẹp, không thể nói hết ở Thế giới Tây Phương của Phật A Di Đà. Tất cả nhân dân ở cõi đó, người người đều thành tựu tâm hoan hỷ, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm giác ngộ triệt để, biết rõ chân tướng của vũ trụ nhân sanh. Thêm nữa, trong kinh điển này, Phật còn dạy chúng ta rất cặn kẽ phương pháp tu hành như thế nào để cầu sanh Tịnh độ : Ngài dạy chúng ta trước hết phải “ngày đêm không ngừng” thọ trì đọc tụng kinh điển này nhằm khiến chúng ta ngộ nhập Phật tri kiến, lấy đó làm Chánh Nhân Vãng Sanh.

“Ngày đêm không ngừng thọ trì đọc tụng, biên chép cúng dường kinh điển này” chính là tâm thứ tám trong Mười Đại Nguyện của Phổ Hiền Bồ tát là “Thường Tùy Học Phật.” Phật dùng câu “ngày đêm không ngừng” này để biểu thị sự dũng mãnh, tinh tấn tu hành chẳng hề gián đoạn. Như vậy, chúng ta phải thường tùy học Phật như thế nào đây mới xứng tánh ? Kinh này dạy chúng ta cách thức sinh sống trong mọi xử sự, tiếp vật, đãi người sao cho thuận với Chân Như Tự Tánh, thích hợp với lẽ tự nhiên của vũ trụ nhân sanh; đấy gọi là “Thường Tùy Học Phật.” Hiện nay, chúng ta học kinh điển này là để biết cách nhìn, cách suy nghĩ và cách làm của A Di Đà Phật. Một khi chúng ta có cái nhìn thấu suốt về vũ trụ nhân sanh và biết cách thực hành trong mọi xử sự, tiếp vật, đãi người thì mới tương ứng với A Di Đà Phật.

Thật sự mà nói, nếu chúng ta không có trí huệ Phật, tức là không cái nhìn thấu suốt về vũ trụ nhân sanh và không biết cách xử sự, tiếp vật, đãi người giống như Phật, thì nhất định chẳng thể tiêu trừ hết sạch phiền não. Phiền não chỉ có thể đoạn sạch bằng trí huệ. Do đó, chúng ta học kinh, mong cầu trí huệ Phật, cũng chính là bước đầu tiên của pháp tu đoạn phiền não, sám trừ nghiệp chướng. Phật pháp là pháp trí huệ, Phật giáo là giáo dục trí huệ. Chỉ có trí huệ thì mới có thể thấy rõ chân tướng của hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian. Chỉ có trí huệ thì mới biết: Trong thế gian và xuất thế gian, bản thân của chính mình phải làm theo cách nào, mới hòng có thể thật sự lìa khổ, được vui ! Khổ là do mê hoặc, điên đảo mà có, vui là do khai ngộ mà đạt được. Do có trí huệ nên từ nay trở đi, chúng ta chẳng còn tạo nghiệp nữa. Không chỉ là chẳng tạo ác nghiệp, mà thiện nghiệp cũng chẳng tạo, chỉ võn vẹn là Nhất Tâm Niệm Phật cầu sanh Cực Lạc !



    « Xem chương trước «      « Sách này có 563 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này

Quý vị đang truy cập từ IP 54.80.102.170 (911238826) và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Phung Thi Doan Trang Rộng Mở Tâm Hồn Vothuong18 Rộng Mở Tâm Hồn ngtieudao Rộng Mở Tâm Hồn thiện thông-minh thành Rộng Mở Tâm Hồn Tào Đan Thu Rộng Mở Tâm Hồn Mừng Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Huyền Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn thi BÍch Thuỷ Rộng Mở Tâm Hồn Ngô Văn Khiêm Rộng Mở Tâm Hồn Dương2411 Rộng Mở Tâm Hồn DrHoạng45 Rộng Mở Tâm Hồn Khánh Đỗ Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thiên Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Lộc 1959 Rộng Mở Tâm Hồn Duyhoangtdh Rộng Mở Tâm Hồn Phan Hoài Rộng Mở Tâm Hồn Thuan Quan Rộng Mở Tâm Hồn Loan Vo Rộng Mở Tâm Hồn Hien hoa Rộng Mở Tâm Hồn Ngọc Anh Rộng Mở Tâm Hồn Vô Thường Violet Rộng Mở Tâm Hồn Phan Huy Triều Rộng Mở Tâm Hồn ATN12HAN Rộng Mở Tâm Hồn Trương Ngọc Trân Rộng Mở Tâm Hồn HKlethi Rộng Mở Tâm Hồn lý thành hưng Rộng Mở Tâm Hồn hyperdragon Rộng Mở Tâm Hồn Đỗ Hùng Rộng Mở Tâm Hồn doc Rộng Mở Tâm Hồn Minh Thái Hồng Rộng Mở Tâm Hồn Bích Luu Rộng Mở Tâm Hồn Vanminh Rộng Mở Tâm Hồn Pham Sau Rộng Mở Tâm Hồn Vạn Bình Rộng Mở Tâm Hồn Dũng Lê Rộng Mở Tâm Hồn Hường TP Rộng Mở Tâm Hồn Thiện_Nhiên87 Rộng Mở Tâm Hồn Nguyen Van Thang Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Linh MaiPhương Rộng Mở Tâm Hồn Truong Minh Chanh ... ...

Việt Nam (7.171 lượt xem) - Hoa Kỳ (638 lượt xem) - Hong Kong (177 lượt xem) - Ấn Độ (118 lượt xem) - Australia (85 lượt xem) - Central African Republic (74 lượt xem) - Đức quốc (17 lượt xem) - Nhật Bản (12 lượt xem) - Na-uy (6 lượt xem) - Hà Lan (5 lượt xem) - Trung Hoa (3 lượt xem) - French Southern Territories (2 lượt xem) - Cộng hòa Czech (1 lượt xem) - ... ...