Hãy tự mình làm những điều mình khuyên dạy người khác. Kinh Pháp cú
Không thể lấy hận thù để diệt trừ thù hận. Kinh Pháp cú
Tôi tìm thấy hy vọng trong những ngày đen tối nhất và hướng về những gì tươi sáng nhất mà không phê phán hiện thực. (I find hope in the darkest of days, and focus in the brightest. I do not judge the universe.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Sống trong đời cũng giống như việc đi xe đạp. Để giữ được thăng bằng bạn phải luôn đi tới. (Life is like riding a bicycle. To keep your balance you must keep moving. )Albert Einstein
Đừng than khóc khi sự việc kết thúc, hãy mỉm cười vì sự việc đã xảy ra. (Don’t cry because it’s over, smile because it happened. )Dr. Seuss
Tài năng là do bẩm sinh, hãy khiêm tốn. Danh vọng là do xã hội ban cho, hãy biết ơn. Kiêu căng là do ta tự tạo, hãy cẩn thận. (Talent is God-given. Be humble. Fame is man-given. Be grateful. Conceit is self-given. Be careful.)John Wooden
Điều bất hạnh nhất đối với một con người không phải là khi không có trong tay tiền bạc, của cải, mà chính là khi cảm thấy mình không có ai để yêu thương.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Dầu giữa bãi chiến trường, thắng ngàn ngàn quân địch, không bằng tự thắng mình, thật chiến thắng tối thượng.Kinh Pháp cú (Kệ số 103)
Không có ai là vô dụng trong thế giới này khi làm nhẹ bớt đi gánh nặng của người khác. (No one is useless in this world who lightens the burdens of another. )Charles Dickens
Xưa, vị lai, và nay, đâu có sự kiện này: Người hoàn toàn bị chê,người trọn vẹn được khen.Kinh Pháp cú (Kệ số 228)

Trang chủ »» Danh mục »» TỦ SÁCH RỘNG MỞ TÂM HỒN »» Tu học Phật pháp »» Tâm được mở sáng »»

Tu học Phật pháp
»» Tâm được mở sáng

(Lượt xem: 1.153)
Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục 

       

Văn học Phật giáo - Tâm được mở sáng

Font chữ:

Ngài Di Lặc Bồ-tát tiêu biểu cho Duy Thức Học, nên sau khi nghe Phật thuyết kinh Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ đến phẩm Khuyến Dụ Sách Tấn, Ngài liền lãnh hội được hoàn toàn ý chỉ của Phật, tâm được khai minh. Thế nhưng đối các đại chúng khác trong pháp hội vẫn chưa hẵn là đã thông rõ ý chỉ của Phật, nên trong phẩm Tâm Được Mở Sáng, Đức Phật nhắc lại cho hội chúng nghe thêm bốn điều trọng yếu trong pháp môn Tịnh độ:

· Một là phải đoạn trừ hoặc chướng, phải biết thế gian này là khổ mà chăm lo tu hành cầu sự giải thoát.

· Hai là phải thực hành hạnh tự lợi, lợi tha, lần lượt cứu vớt lẫn nhau.

· Ba là phải thấu rõ quả báo thù thắng của cõi Cực Lạc.

· Bốn là phải đoạn trừ nghi ngờ để khỏi bị sanh vào biên địa nghi thành.

Trong bài viết này chúng ta chỉ thảo luận điều thứ nhất: Đoạn trừ hoặc chướng, biết khổ tu hành dựa theo lời giáo huấn của Phật, kinh chép: “Di Lặc bạch rằng: “Phật nói giáo giới, rất sâu rất khéo, đều nhờ ân lành, giải thoát ưu khổ. Phật là vua Pháp, tôn siêu trong hàng Thánh, quang minh chiếu suốt, rõ thông không ngằn mé, rộng làm đạo sư, tất cả trời người. Nay được gặp Phật, lại cũng được nghe, tiếng Vô Lượng Thọ, thảy đều hoan hỷ, tâm được mở sáng. “

Ngài Di Lặc nghe Đức Phật giảng kinh đến phẩm Khuyến Dụ Sách Tấn, liền lãnh ngộ lời Phật dạy, phát lòng mừng vui sâu xa, rồi Ngài tỏ bày bằng lời tán tụng Phật rằng: “Phật nói giáo giới, rất sâu rất khéo.” Giáo giới là lời dạy dỗ của người trên khiến kẻ dưới đoạn ác tu thiện. Bồ-tát Di Lặc khen lời dạy của Phật rất sâu, rất khéo là vì lời dạy của Phật thấu triệt thật lý, khiến chúng sanh có thể chuyển phàm thành thánh. Pháp âm của Phật thấm nhuần rộng rãi khắp mọi chúng sanh, khiến ai được nghe pháp yếu liền dứt trừ các nỗi lo lắng, khổ sở bị trôi nổi trong sáu đường, giống như người được nếm no nê pháp lạc, liền dứt trừ được cái khổ sanh tử. Vì vậy, Ngài Di Lặc bạch Phật rằng: “Đều nhờ ân lành, giải thoát ưu khổ.”

Hòa Thượng Tịnh Không nói: “Nếu như chúng ta xa rời kinh giáo, thì chúng ta sẽ nghĩ ngợi lung tung. Ngày nay, danh vọng lợi dưỡng trong xã hội, sự cám dỗ của tài, sắc, danh, thực, thùy quá mạnh mẽ, nếu chúng ta xa rời lời giáo huấn của Phật-đà, chúng ta chắc chắn chống không nổi, nhất định sẽ đọa lạc. Chúng ta giống như chiếc thuyền rách ở giữa sóng to gió lớn, nhưng vẫn không bị chìm đắm đều là nhờ Phật pháp hằng ngày nhắc nhở, khuyến khích chúng ta. Khi cảnh giới hiện ra, chúng ta lập tức liền nghĩ đến lời giáo huấn của Phật-đà thì mới không đến nỗi bị chìm đắm.” Thật vậy, những ai đang thọ trì kinh Vô Lượng Thọ, chắc có lẽ cũng có cùng một cảm nhận với Hòa Thượng, mỗi khi mình khởi tâm niệm trước cảnh giới bên ngoài, bèn cảm thấy chính mình giống như chiếc thuyền rách nát đang chơi vơi giữa sóng to gió lớn, rồi chợt nghĩ nhớ đến lời Phật dạy trong kinh, tâm liền trở nên an ổn, vững vàng như chiếc thuyền được cập bờ, không còn bị chơi vơi, chìm đắm giữa biển khơi nữa. Vì thế, Di Lặc Bồ-tát mới khen Phật: “Phật nói giáo giới, rất sâu rất khéo, đều nhờ ân lành, giải thoát ưu khổ.”

Thánh là những bậc đã đoạn hoặc, chứng lý. Những bậc chứng sơ quả của Tiểu thừa như Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm thì gọi là Tiểu Thánh. Những bậc chứng từ quả A-la-hán trở lên thì gọi là Đại Thánh. Đức Phật tự tại trong tất cả các pháp, là đại đạo sư của cả chín cõi, là bậc tôn quý nhất trong các hàng thánh, nên Ngài Di Lặc xưng tán Phật là “vua Pháp, tôn siêu trong hàng thánh.” Danh hiệu Phật làm cảm động mười phương, nhiếp thọ kẻ có duyên. Quang minh Phật chiếu tột, thấu suốt không cùng tận, chẳng có ngằn hạn, nên Ngài Di Lặc xưng tụng Phật là “quang minh chiếu suốt, rõ thông không ngằn mé.” “Quang minh chiếu suốt” có nghĩa là tự phước của Phật thù thắng. “Rõ thông không ngằn mé” có nghĩa là tự trí của Phật thù thắng. Vậy, “Quang minh chiếu suốt, rõ thông không ngằn mé” là nói đến cả hai thứ phước và trí của Phật vô cùng thù thắng, vượt xa hết thảy các bậc thánh. Phật hiểu thấu tánh không đến mức không ngằn mé chính là tự trí rốt ráo, thông đạt Ðệ Nhất Nghĩa Không. Phật chứng ngộ triệt để lý thể của pháp tánh chính là đại trí. Ngài phổ độ chúng sanh hữu duyên trong mười phương, chẳng có ngằn hạn chính là đại bi. Đức Như Lai từ thể khởi dụng, vận dụng cả bi lẫn trí, nên diệu dụng vô tận. Do vậy, Ngài Di Lặc khen ngợi Phật đức là phước lẫn trí đều siêu việt thù thắng bằng câu “quang minh chiếu suốt, rõ thông không ngằn mé.”

Thêm nữa, một trong mười danh hiệu của Phật là Thiên Nhân Sư. Trên trời, dưới thế chỉ có mình Đức Phật là vị thầy tôn quý nhất. Ngài dạo khắp mười phương làm đại đạo sư giáo hóa hết thảy chúng sanh. Kinh nói: “Thân người khó được, Phật khó gặp;” thế mà ngày nay chúng ta lại gặp được Phật pháp, cũng tức là gặp được Phật, thì đây chính là niềm vui lớn lao nhất, chẳng có niềm vui nào sánh bằng. Kinh cũng dạy: “Tín, huệ, nghe pháp là điều khó nhất trong các điều khó;” thế mà chẳng những chúng ta được nghe pháp mà lại cũng được nghe bốn chữ hồng danh A Di Đà Phật, Nhất thừa Nguyện Hải tối cực viên đốn, một diệu pháp bất khả tư nghì mà phát lòng tin ưa, chẳng chút hoài nghi, thì phải biết đây là điều thù thắng bậc nhất! Vì sao nghe được danh hiệu A Di Đà Phật, phát lòng tin ưa là điều thù thắng bậc nhất? Sách Di Ðà Yếu Giải nói: “Chẳng luận chí tâm, tán tâm, hữu tâm, vô tâm, hoặc hiểu hay chẳng hiểu, chỉ một phen danh hiệu Di Ðà thoảng qua tai thì dẫu cho ngàn vạn kiếp sau cũng nhờ đó mà được độ thoát.” Đây chính là điều thù thắng độc diệu của Tịnh độ pháp môn. Vì pháp môn này có thể khiến cho hội chúng hoan hỷ, mừng rỡ, khai phát Phật trí, hiểu rõ Tự tánh, nên Ngài Di Lặc mới nói: “Thảy đều hoan hỷ, tâm được mở sáng.” “Tâm được mở sáng” là khai phát Phật trí, đoạn diệt vô minh. “Thảy đều hoan hỷ” nghĩa là không ai mà chẳng hoan hỷ, cả đại hội thảy đều hoan hỷ. Vì sao hoan hỷ? Vì tâm được mở sáng, thoát ra khỏi mọi ưu não sau khi nghe Phật giảng kinh Vô Lượng Thọ.

Hòa Thượng Tịnh Không bảo: “Giảng kinh nói pháp là việc quan trọng hàng đầu,” rồi Ngài giải thích: “Vì nghe kinh quá ít, không giác ngộ, cho nên niệm Phật sẽ thoái chuyển, niệm Phật vẫn nghĩ tưởng sằng bậy, niệm một thời gian lại đi học pháp môn khác; đều là do nghe kinh quá ít... Phật giáo hiện tại gần như toàn bộ thảy đều là làm nghi thức tôn giáo; đây là đem giáo dục của Phật-đà biến thành tôn giáo. Tôn giáo chú trọng nghi thức, Phật pháp không chú trọng nghi thức, Phật giáo chú trọng giáo học, nghi thức chỉ là một bộ phận lễ tiết của Phật giáo, chúng ta phải nhận thức rõ ràng bản chất của Phật pháp.” Việc giảng kinh, nói pháp là để phá mê khai ngộ, giúp cho người tu hành tâm được mở sáng, từ đó mới có thể giải thoát ưu khổ. Câu “giải thoát ưu khổ” của Di-Lặc Bồ-tát chính là thành tựu đại nguyện “phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,” mà muốn đoạn phiền não, giải thoát ưu khổ thì trước hết tâm phải được mở sáng, tức là phải khai phát Phật trí, đoạn diệt vô minh. Đức Phật dạy, muốn giải thoát ưu khổ thì phải “thật nên niệm Phật, dứt đoạn hồ nghi, nhổ gốc ái dục, ngăn các nguồn ác.” Niệm Phật là tu định, nghe pháp là tu huệ, định và huệ cùng tu song song với nhau mới mau chóng giải thoát ưa khổ, tâm được mở sáng. Do đó, niệm Phật, nghe pháp phải thực hành song song với nhau.

Niệm Phật đường là nơi huấn luyện ta tu định. Giảng đường thuyết kinh, nói pháp giúp cho đại chúng khai mở trí tuệ. Đại chúng ở trong đạo tràng cùng tu học định và huệ, mới có thành tựu chân thật. Khi xưa, đạo tràng của lão sư Lý Bỉnh Nam đã làm ra thí dụ này, lão sư nói: Tỷ dụ, nếu như bạn chỉ dựa vào tu định, tức là chỉ niệm Phật để thành tựu, thì gần như là phải cần mười năm mới có thể thành tựu, mới có thể minh tâm kiến tánh. Nhưng nếu như bạn vừa niệm Phật lại có thể nghe kinh, nghiên cứu giáo, thì bạn có thể rút ngắn được thời gian thành tựu trong vòng ba năm đến năm năm. Đây chính là nói lợi ích và công đức của định huệ đều học. Niệm Phật là dùng câu Phật hiệu đè nén tham-sân-si-mạn xuống như dùng đá đè cỏ, liều mạng mà đè, đè đến mức bảo hòa thì thành tựu. Có khi chúng ta đã cố gắng hết sức mình mà vẫn không thể đè xuống được nữa thì xong, tham-sân-si-man liền bạo phát lên. Thế nhưng, khi bạn nghe kinh nghe pháp, bạn có thể một mặt dùng định đè xuống, một mặt dùng trí tuệ hóa giải nó, đem nó hóa giải hết thì không còn gì để đè nén nữa. Phương pháp này rất tốt đẹp, hiệu quả rất thù thắng, nên người chân thật biết dụng công, nhất định phải là định huệ đều cùng học một lúc. Khi đạt được hai thứ niệm Phật được định và nghe pháp được huệ rồi, thì cũng sẽ được hai thứ mà kinh Vô Lượng Thọ đã nói trong phẩm Bồ-tát Tu Trì; đó là “pháp nhãn thanh tịnh” và “huệ nhãn thấy chân.” Vì sao? Khi tâm không còn phiền não, vọng tưởng, phân biệt chấp trước nữa, tâm liền thông, tâm thông thì vạn pháp cũng theo đó mà thông; đây chính là phương pháp tu học định huệ để viên mãn đại nguyện “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.” Khi có huệ nhãn rồi, tức thời sẽ thấy chân thật tế. Chân thật tế đó chính là như Phật bảo Ngài Di Lặc Bồ-tát: “Người hay tự độ, qua lại giúp nhau.” Cái chân thật tế trước hết mà Phật dạy Di Lặc Bồ-tát là dạy cho đại chúng phải nên tự độ; đây cũng chính là điều trước tiên hết trong đạo độ đời! Vì sao? Chỉ khi nào chính mình đã được độ rồi, thì tất cả chúng sanh mới được độ. Chỉ khi nào chính mình đã thành Phật rồi, thì trong Phật nhãn mới không còn bốn tướng nhân, ngã, chúng sanh và thọ giả nữa, mà thấy được tâm, Phật và chúng sanh đều là một thể không hai. Do thấy tất cả chúng sanh đều là Phật, không còn thấy có một chúng sanh nào để độ nữa, nên tự nhiên viên mãn hai đại nguyện “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” và “Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.”

Ngày nay sự tu hành của chúng ta gặp rất nhiều chướng ngại, phần lớn là do không hiểu sâu kinh pháp, cũng không trạch pháp, nên nhận lầm căn tánh của mình và tu không đúng với pháp thích hợp với khả năng của mình. Do đó, dù chúng ta niệm Phật đã lâu năm, nhưng chẳng thể dứt được phiền não, không đạt được công phu đắc lực trong việc niệm Phật. Lại có những người càng niệm Phật càng sanh thêm phiền não, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, thậm chí còn bị ma dựa. Cho nên, trong phẩm Ba Bậc Vãng Sanh, Phật nêu ra ba bậc vãng sanh làm tiêu biểu. Đối với bậc thượng căn thượng trí, triệt khai triệt ngộ giáo giới của Phật, họ chẳng cần tụng kinh, cũng chẳng cần nghe pháp, họ chỉ cần một lòng nhất tâm niệm Phật cũng được vãng sanh. Còn đối với bậc hạ căn đọc kinh nghe pháp chẳng hiểu, thì càng đọc kinh nghe pháp càng sanh lòng nghi ngờ và phiền não, Phật khuyên hạng người này chỉ cần giữ một tấm lòng thật thà niệm Phật cũng được vãng sanh. Phần lớn người tu pháp môn Niệm Phật hay tự cho mình là người hạ căn, chỉ cần thật thà, ngu ngu niệm Phật là đủ, không cần đọc kinh, nghe pháp. Nhưng trên thật tế, phần đông chúng ta chẳng nhận ra chính mình chẳng phải là người thật thà như mình tưởng. Vì sao? Vì nếu chúng ta còn thích bàn luận, tranh lý, phân biệt, chấp trước, đúng sai, phải trái, nhân ngã, thị phi v.v..., thì nhất định chẳng phải là người thật thà, ngu ngu!

Hòa Thượng Tịnh Không bảo: “Nếu tự cho mình là thật thà niệm Phật, tức là không thật thà.” Vì sao Ngài nói như vậy? Vì phần đông chúng ta là hạng trung căn đầy dẩy phiền não, vọng tưởng, phân biệt và chấp trước, thích bàn luận, tranh lý đúng sai, phải trái. Cho nên, chúng ta cần phải thường xuyên đọc một bộ kinh, nghe giảng một bộ kinh và chuyên niệm một câu Phật hiệu cho thật nhiều, mới hòng giảm bớt kiến hoặc và tư hoặc, giúp việc niệm Phật được đắc lực hơn. Chúng ta hằng ngày không an trú tâm mình chỉ nơi một quyển kinh, không nghe giảng chỉ một bộ kinh, chỉ thích tranh luận những chuyện đúng sai, phải trái đối với các pháp môn và các kinh luận khác nhau, thì nhất định sẽ tăng trưởng tà kiến. Chúng ta phải biết cái hiểu trên mặt văn tự đều là cái hiểu lầm, chẳng phải là thật trí. Chúng ta phải biết, những gì chúng ta tìm thấy trong kinh luận in trong sách vở chỉ là những lời gợi ý cho chúng ta tư duy quán chiếu để phát sanh trí huệ, chớ chẳng phải là chân thật huệ. Chân thật trí huệ chỉ có thể lưu xuất từ tâm thanh tịnh được rèn luyện, huân tập trong một quá trình rất lâu dài từ sự thực hành Văn-Tư-Tu, Giới-Định-Huệ để chứng lý. Vì thế, Bát-nhã Tâm Kinh mới mở đầu bằng câu: “Quán Tự Tại Bồ-tát thực hành sâu xa pháp Bát-nhã Ba La Mật Đa. Ngài soi thấy năm uẩn đều không, nên vượt qua hết thảy khổ ách.”

Thế nào là thực hành sâu xa Bát-nhã Ba La Mật Đa? Trong phẩm Tâm Được Mở Sáng, chúng ta nhận thấy Bồ-tát Di Lặc nghe Thích Ca Mâu Ni Phật nói giáo giới chính là Văn học, rồi từ Văn tự Bát-nhã của Phật, Ngài tư duy quán chiếu mà chứng lý, nên tâm được mở sáng; đó gọi là Tư học. Nói tóm lại, do thành tựu Tam Học Giới-Định Huệ và Văn-Tư-Tu nên tâm được mở sáng, thấy được năm uẩn đều không mà tự mình giải thoát ưu khổ, rồi từ đó lại có thể khiến cho người khác cũng được giải thoát ưu khổ. Vậy, cái kết quả của Văn-Tư-Tu chính là tâm được mở sáng! Do tâm được mở sáng nên mới có thể giải thoát ưu khổ, thảy đều hoan hỷ. Do đó, Phật bảo Ngài Di Lặc Bồ-tát trước hết phải nên dạy đại chúng tự độ mình trước, chính mình phải dứt đoạn hồ nghi, thật thà niệm Phật để cho chính mình giải thoát mọi ưu khổ, tâm được mở sáng trước. Sau đó mới có thể dạo khắp ba cõi, không chỗ ngăn ngại, mở bày chánh đạo, độ người chưa độ.


    « Xem chương trước «      « Sách này có 1190 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này

_______________

TỪ ĐIỂN HỮU ÍCH CHO NGƯỜI HỌC TIẾNG ANH

DO NXB LIÊN PHẬT HỘI PHÁT HÀNH




BẢN BÌA CỨNG (HARDCOVER)
1200 trang - 54.99 USD



BẢN BÌA THƯỜNG (PAPERBACK)
1200 trang - 45.99 USD



BẢN BÌA CỨNG (HARDCOVER)
728 trang - 29.99 USD



BẢN BÌA THƯỜNG (PAPERBACK)
728 trang - 22.99 USD

Mua sách qua Amazon sẽ được gửi đến tận nhà - trên toàn nước Mỹ, Canada, Âu châu và Úc châu.

XEM TRANG GIỚI THIỆU.






DONATION

Quý vị đang truy cập từ IP 3.234.211.61 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Trí 1975 Rộng Mở Tâm Hồn Nangsel Rộng Mở Tâm Hồn Ngọc Chi Rộng Mở Tâm Hồn Duc trinh Rộng Mở Tâm Hồn Pascal Bui Rộng Mở Tâm Hồn maithanh151 Rộng Mở Tâm Hồn tamtran.ussh Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Ngọc Bảo Phương Rộng Mở Tâm Hồn tranadobe Rộng Mở Tâm Hồn Vạn Phúc Rộng Mở Tâm Hồn Đinh Trí Hùng Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thiên Rộng Mở Tâm Hồn Phan Huy Triều Rộng Mở Tâm Hồn Lê thị Ngọc Phượng Rộng Mở Tâm Hồn Viễn Tương Rộng Mở Tâm Hồn Trương Quang Quý Rộng Mở Tâm Hồn Tánh Không 1965 Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Lộc 1959 Rộng Mở Tâm Hồn Minhkhang2110 Rộng Mở Tâm Hồn caokiem Rộng Mở Tâm Hồn Quán Thoát Rộng Mở Tâm Hồn Hidivi Rộng Mở Tâm Hồn Vô Thường Violet Rộng Mở Tâm Hồn Trần Bình Rộng Mở Tâm Hồn Bữu Phước Rộng Mở Tâm Hồn Thanh Danh Rộng Mở Tâm Hồn An Nhiên Rộng Mở Tâm Hồn Khánh Nga Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Cát Rộng Mở Tâm Hồn hieu60 Rộng Mở Tâm Hồn Khoanguyen7654 Rộng Mở Tâm Hồn QuangDuc Rộng Mở Tâm Hồn William Thanhha Rộng Mở Tâm Hồn Minh Hữu Rộng Mở Tâm Hồn DRAGONMAN Rộng Mở Tâm Hồn Quảng Khang Rộng Mở Tâm Hồn Tam Thien Tam Rộng Mở Tâm Hồn Thiện Diệu Rộng Mở Tâm Hồn Trần thị Tố Hương Rộng Mở Tâm Hồn John Pham ... ...

Việt Nam (1.240 lượt xem) - Hoa Kỳ (105 lượt xem) - Trung Hoa (58 lượt xem) - Senegal (48 lượt xem) - Saudi Arabia (3 lượt xem) - Na-uy (3 lượt xem) - ... ...