Chấm dứt sự giết hại chúng sinh chính là chấm dứt chuỗi khổ đau trong tương lai cho chính mình.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Người ta vì ái dục sinh ra lo nghĩ; vì lo nghĩ sinh ra sợ sệt. Nếu lìa khỏi ái dục thì còn chi phải lo, còn chi phải sợ?Kinh Bốn mươi hai chương
Bạn có thể trì hoãn, nhưng thời gian thì không. (You may delay, but time will not.)Benjamin Franklin
Kẻ không biết đủ, tuy giàu mà nghèo. Người biết đủ, tuy nghèo mà giàu. Kinh Lời dạy cuối cùng
Khởi đầu của mọi thành tựu chính là khát vọng. (The starting point of all achievement is desire.)Napoleon Hill
Bạn có biết là những người thành đạt hơn bạn vẫn đang cố gắng nhiều hơn cả bạn?Sưu tầm
Dễ thay thấy lỗi người, lỗi mình thấy mới khó.Kinh Pháp cú (Kệ số 252)
Người ta thuận theo sự mong ước tầm thường, cầu lấy danh tiếng. Khi được danh tiếng thì thân không còn nữa.Kinh Bốn mươi hai chương
Thiên tài là khả năng hiện thực hóa những điều bạn nghĩ. (Genius is the ability to put into effect what is on your mind. )F. Scott Fitzgerald
Mất lòng trước, được lòng sau. (Better the first quarrel than the last.)none

Trang chủ »» Danh mục »» TỦ SÁCH RỘNG MỞ TÂM HỒN »» Tổng quan về các pháp môn trong Phật giáo Tây Tạng »» Xem đối chiếu Anh Việt: Những giảng giải khác nhau về vô ngã »»

Tổng quan về các pháp môn trong Phật giáo Tây Tạng
»» Xem đối chiếu Anh Việt: Những giảng giải khác nhau về vô ngã

(Lượt xem: 2.388)
Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục 

       

Font chữ:
Font chữ:

Những giảng giải khác nhau về vô ngã

Về mặt triết học, những tiêu chí để xác định một trường phái thuộc về Phật giáo là xét xem trường phái ấy có chấp nhận bốn pháp ấn hay không. Bốn pháp ấn là: (1) tất cả các pháp do nhân duyên hợp thành, bản chất là vô thường; (2) tất cả các pháp bất tịnh đều mang bản chất khổ đau; (3) [bản tánh rốt ráo của] tất cả các pháp đều là không và không có tự ngã; và (4) chỉ có Niết-bàn [tịch diệt] là an lạc. Bất kỳ hệ thống [tư tưởng] nào chấp nhận các pháp ấn này thì về mặt triết học đều được xem như một trường phái tư tưởng của Phật giáo. Trong các trường phái tư tưởng Đại thừa, ý nghĩa vô ngã được giảng giải một cách thâm diệu hơn, ở mức độ sâu xa hơn.

Bây giờ, tôi sẽ giải thích sự khác biệt của ý nghĩa vô ngã như được giảng giải trong lần chuyển pháp luân thứ hai so với lần thứ nhất.

Hãy khảo sát kinh nghiệm của chính mình để thấy chúng ta liên hệ với sự vật như thế nào. Lấy ví dụ ở đây, khi tôi sử dụng xâu chuỗi này, tôi cảm nhận nó là của tôi và tôi có sự tham luyến đối với nó. Nếu quý vị khảo sát sự tham luyến mà quý vị cảm thấy đối với những vật sở hữu của riêng mình, quý vị sẽ thấy là có nhiều mức độ tham luyến. Một trong các mức độ ấy là cảm thấy như có một bản ngã tự nó là trọn vẹn và tồn tại như một thực thể tách biệt không phụ thuộc vào thân tâm của quý vị; chính cái bản ngã ấy đã cảm nhận rằng xâu chuỗi này là “của tôi”.

Một khi nhờ tu tập thiền quán mà quý vị có khả năng nhận thức được sự không hiện hữu của một bản ngã tự nó đã trọn vẹn và tồn tại tách biệt với thân tâm của quý vị như thế, quý vị sẽ có thể giảm nhẹ đi sự tham luyến mạnh mẽ mà quý vị cảm thấy đối với những vật sở hữu của mình. Nhưng quý vị cũng có thể cảm thấy vẫn còn có những mức độ tham luyến thật vi tế. Mặc dù quý vị có thể không cảm thấy một sự tham luyến chủ quan từ phía mình như một bản ngã, nhưng vì vẻ ngoài xinh xắn của xâu chuỗi, màu sắc đẹp đẽ của nó v.v... nên quý vị vẫn cảm thấy một mức độ tham luyến nào đó đối với nó vì tin rằng có một thực thể khách quan nhất định quả thật tồn tại bên ngoài quý vị. Vì thế, trong lần chuyển pháp luân thứ hai, đức Phật đã dạy rằng [ý nghĩa] vô ngã không chỉ giới hạn trong phạm trù bản ngã cá nhân (nhân vô ngã), mà cũng áp dụng cho tất cả các pháp (pháp vô ngã). Khi nhận rõ được điều này, quý vị sẽ có khả năng vượt qua mọi hình thức của tham luyến và vọng chấp.

Như ngài Nguyệt Xứng đã nói khi luận giải về tác phẩm Trung luận của ngài Long Thụ, ý nghĩa vô ngã như được giải thích theo giáo lý của các tông phái Tiểu thừa - vốn chỉ giới hạn trong phạm trù bản ngã của cá nhân - không phải là dạng thức đầy đủ của vô ngã. Cho dù quý vị có nhận rõ được ý nghĩa vô ngã theo cách đó, quý vị vẫn sẽ có những tham luyến và bám chấp ở mức độ vi tế đối với các đối tượng bên ngoài, chẳng hạn như những vật sở hữu của quý vị v.v...

Mặc dù vô ngã là quan điểm chung của tất cả mọi trường phái tư tưởng Phật giáo, nhưng vẫn có những khác biệt trong sự diễn bày. Cách diễn giải của các trường phái Đại thừa là thâm diệu hơn khi so với các trường phái tư tưởng thuộc Tiểu thừa. Một lý do [cho nhận xét này] là, mặc dù quý vị có thể nhận rõ được tính vô ngã của con người, như được mô tả theo các trường phái Tiểu thừa - nghĩa là mỗi con người không phải một thực thể tồn tại về cơ bản hay tự nó là đầy đủ - quý vị vẫn có thể bám chấp vào một khái niệm sai lầm nào đó về bản ngã, nhận hiểu về con người như một sự tồn tại dựa vào tự tính, hoàn toàn không phụ thuộc và thật có.

Khi nhận thức về tính vô ngã của con người ngày càng trở nên tinh tế hơn, quý vị sẽ nhận ra rằng mỗi con người không hề có bất kỳ một dạng thức bản chất độc lập nào hay tồn tại dựa vào tự tính sẵn có. Và như vậy quý vị sẽ không cách nào có thể nhận hiểu được về một con người mà tự thân vốn đã là trọn vẹn. Do đó, sự diễn giải về vô ngã trong các trường phái Đại thừa là sâu sắc và thâm diệu hơn nhiều so với cách diễn giải của các trường phái Tiểu thừa.

Cách diễn giải về vô ngã của các trường phái Đại thừa không chỉ thâm diệu hơn trong việc đối trị với nhận thức sai lầm về sự hiện hữu chân thật của con người và các pháp, mà còn là không mâu thuẫn với thực tại quy ước của các pháp. Các pháp quả thật có tồn tại trên một nền tảng quy ước, và sự nhận biết được tánh Không không hề ảnh hưởng đến điều này.

Những thuyết giảng khác nhau về vô ngã của đức Phật nên được xem xét theo trình tự như là để tạo nền tảng cho quan điểm duyên khởi của Phật giáo. Khi người Phật tử nói về duyên khởi, họ liên hệ đến các pháp phiền não vốn là nguyên nhân gây ra khổ đau, hệ quả của chúng là khổ đau. Điều này được giải thích trong phạm vi ý nghĩa của “mười hai mắt xích duyên khởi”, vốn tạo thành những yếu tố để hoàn tất một chu kỳ tái sinh trong luân hồi. Do đó, duyên khởi là cội gốc của quan điểm Phật giáo.

Nếu quý vị không hiểu vô ngã trong phạm vi ý nghĩa của duyên khởi, quý vị sẽ không thể hiểu được một cách trọn vẹn về vô ngã. Năng lực tinh thần của con người có sự khác biệt nhau. Đối với một số người, khi nghe giảng giải rằng tất cả các pháp không hề tồn tại dựa vào tự tính thì họ lại nhận hiểu có vẻ như là không có gì tồn tại cả. Một sự nhận hiểu như thế là hết sức nguy hiểm và tai hại, vì nó có thể khiến cho quý vị rơi vào sự cực đoan của chủ nghĩa hư vô. Vì thế, đức Phật đã thuyết giảng giáo lý vô ngã một cách đại lược cho những người có năng lực tinh thần như thế. Với những người tu tập có năng lực tinh thần cao hơn, ngài thuyết giảng vô ngã ở một mức độ tinh tế hơn. Dù vậy, bất kể sự nhận biết về tánh Không có tinh tế đến đâu, nó cũng không làm tổn hại đến niềm tin của người tu tập vào sự hiện hữu [trong thế giới] quy ước của các pháp.

Do đó, sự nhận hiểu về tánh Không phải giúp quý vị hoàn chỉnh sự nhận hiểu về duyên khởi; và sự nhận hiểu về tánh Không đó phải củng cố hơn nữa niềm tin của quý vị vào nhân quả.

Nếu phân tích những diễn giải của các trường phái Đại thừa theo quan điểm của các trường phái Tiểu thừa, quý vị sẽ không tìm thấy trong đó bất kỳ sự mâu thuẫn hay bất hợp lý nào. Ngược lại, nếu xem xét những diễn giải của các trường phái Tiểu thừa theo quan điểm của các trường phái Đại thừa, hẳn là quý vị sẽ tìm thấy nhiều điểm bất hợp lý.

Different Explanations of Selflessness

From a philosophical point of view, the criterion for distinguishing a school as Buddhist is whether or not it accepts the four seals: that all composite phenomena are impermanent by nature, contaminated phenomena are of the nature of suffering, all phenomena are empty and selfless and nirvana alone is peace. Any system accepting these seals is philosophically a Buddhist school of thought. In the great vehicle schools of thought, selflessness is explained more profoundly, at a deeper level.

Now, let me explain the difference between selflessness as explained in the second turning of the wheel and that explained in the first.

Let us examine our own experience, how we relate to things. For example, when I use this rosary here, I feel it is mine and I have attachment to it. If you examine the attachment you feel for your own possessions, you find there are different levels of attachment. One is the feeling that there is a self-sufficient person existing as a separate entity independent of your own body and mind, which feels that this rosary is 'mine'.

When you are able, through meditation, to perceive the absence of such a self-sufficient person, existing in isolation from your own body and mind, you are able to reduce the strong attachment you feel towards your possessions. But you may also feel that there are still some subtle levels of attachment. Although you may not feel a subjective attachment from your own side in relation to the person, because of the rosary's beautiful appearance, its beautiful colour and so forth, you feel a certain level of attachment to it that a certain objective entity exists out there. So, in the second turning of the wheel, the Buddha taught that selflessness is not confined to the person alone, but that it applies to all phenomena. When you realize this, you will be able to overcome all forms of attachment and delusion.

Just as Chandakirti said in his Supplement to Nagarjuna’s Treatise on the Middle Way', the selflessness explained in the lower schools of tenets, which confine their explanation of selflessness only to the person, is not a complete form of selflessness. Even if you realize that selflessness, you will still have subtle levels of clinging and attachment to external objects, like your possessions and so forth.

Although the view of selflessness is common to all Buddhist schools of thought, there are differences of presentation. That of the higher schools is more profound in comparison with that of the lower schools of thought. One reason is that even though you may have realized the selflessness of persons, as described by the lower schools, in terms of a person not being a self-sufficient or substantially existent entity, you may still cling to a certain misconception of self, apprehending the person as inherently, independently or truly existent.

As realization of the selflessness of persons becomes increasingly subtle, you realize that the person lacks any form of independent nature or inherent existence. Then there is no way you can apprehend a self-sufficient person. Therefore, the presentation of selflessness in the higher schools is much deeper and more profound than that of the lower schools.

The way the higher schools explain selflessness is not only more powerful in counteracting the misconception of the true existence of persons and phenomena, but also does not contradict phenomena's conventional reality. Phenomena do exist on a conventional basis, and the realization of emptiness does not affect this.

The Buddha's different presentations of selflessness should be viewed in order as providing background for the Buddhist view of dependent arising. When Buddhists speak of dependent arising, they do so in terms of afflictive phenomena which are causes of suffering, whose consequences are suffering. This is explained in terms of 'the twelve links of dependent arising', which comprise those factors completed within one cycle of rebirth within the cycle of existence. Therefore, dependent arising is at the root of the Buddhist view.

If you do not understand selflessness in terms of dependent arising, you will not understand selflessness completely. People's mental faculties are different. For some, when it is explained that all phenomena are empty of inherent existence, it may seem that nothing exists at all. Such an understanding is very dangerous and harmful, because it can cause you to fall into the extreme of nihilism. Therefore, Buddha taught selflessness roughly for persons with such mental faculties. For practitioners of higher faculties, he taught selflessness on a subtler level. Still, no matter how subtle the realization of emptiness may be, it does not harm their conviction in phenomena's conventional existence.

So, your understanding of emptiness should complement your understanding of dependent arising, and that understanding of emptiness should further reaffirm your conviction in the law of cause and effect.

If you were to analyze the higher schools' presentation from the viewpoint of the lower schools, you should find no contradiction or logical inconsistencies in them. Whereas, if you were to consider the lower schools' presentation from the viewpoint of the higher schools, you would find many logical inconsistencies.

    « Xem chương trước «      « Sách này có 14 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này

Quý vị đang truy cập từ IP 54.166.203.17 (916900625) và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Bốn Mươi Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Huyền Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Âm Phúc Thành Rộng Mở Tâm Hồn Bac nong dan Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Duy Trinh Rộng Mở Tâm Hồn Như Như Rộng Mở Tâm Hồn Trân Dũng Rộng Mở Tâm Hồn Ê chà Rộng Mở Tâm Hồn DUY PHÚC Rộng Mở Tâm Hồn Võ Thị Ánh Ngọc Rộng Mở Tâm Hồn VĨNH HỮU Rộng Mở Tâm Hồn Minh Hữu Rộng Mở Tâm Hồn ngtieudao Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Hoa Rộng Mở Tâm Hồn Hoa Phúc Rộng Mở Tâm Hồn Dhama Rộng Mở Tâm Hồn Lê Quốc Việt Rộng Mở Tâm Hồn le minh duc Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Hữu Thân Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Chơn Rộng Mở Tâm Hồn Tranhongphong Rộng Mở Tâm Hồn Nhuận Hoà Minh Rộng Mở Tâm Hồn Ngan Vu 75ka Rộng Mở Tâm Hồn Duy Nghĩa Rộng Mở Tâm Hồn Phan vinh Khanh Rộng Mở Tâm Hồn Phan Phan Rộng Mở Tâm Hồn Quoc Phan Rộng Mở Tâm Hồn ĐỖ TIẾN ĐẠT Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thiên Rộng Mở Tâm Hồn Chúc Huy Rộng Mở Tâm Hồn Mong Linh Rộng Mở Tâm Hồn Minh Thái Hồng Rộng Mở Tâm Hồn Tào Đan Thu Rộng Mở Tâm Hồn thiện toàn Rộng Mở Tâm Hồn Ngô Văn Khiêm Rộng Mở Tâm Hồn Đại ngàn Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Thị Huỳnh Như Rộng Mở Tâm Hồn nguyễn gia pháp Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Hữu Vang Rộng Mở Tâm Hồn Trương Ngọc Trân ... ...

Việt Nam (8.794 lượt xem) - Hoa Kỳ (548 lượt xem) - Hong Kong (392 lượt xem) - Ấn Độ (109 lượt xem) - Central African Republic (64 lượt xem) - Nhật Bản (42 lượt xem) - Australia (25 lượt xem) - Đức quốc (24 lượt xem) - Pháp quốc (16 lượt xem) - Phần Lan (14 lượt xem) - Hà Lan (5 lượt xem) - Thái Lan (2 lượt xem) - French Southern Territories (2 lượt xem) - Cộng hòa Czech (1 lượt xem) - ... ...