Người ngu nghĩ mình ngu, nhờ vậy thành có trí. Người ngu tưởng có trí, thật xứng gọi chí ngu.Kinh Pháp cú (Kệ số 63)
Nhà lợp không kín ắt bị mưa dột. Tâm không thường tu tập ắt bị tham dục xâm chiếm.Kinh Pháp cú (Kệ số 13)
Nếu người nói nhiều kinh, không hành trì, phóng dật; như kẻ chăn bò người, không phần Sa-môn hạnh.Kinh Pháp cú (Kệ số 19)
Một người sáng tạo được thôi thúc bởi khát khao đạt đến thành công, không phải bởi mong muốn đánh bại người khác. (A creative man is motivated by the desire to achieve, not by the desire to beat others.)Ayn Rand
Người thực hành ít ham muốn thì lòng được thản nhiên, không phải lo sợ chi cả, cho dù gặp việc thế nào cũng tự thấy đầy đủ.Kinh Lời dạy cuối cùng
Mỗi cơn giận luôn có một nguyên nhân, nhưng rất hiếm khi đó là nguyên nhân chính đáng. (Anger is never without a reason, but seldom with a good one.)Benjamin Franklin
Chúng ta không thể đạt được sự bình an nơi thế giới bên ngoài khi chưa có sự bình an với chính bản thân mình. (We can never obtain peace in the outer world until we make peace with ourselves.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Hạnh phúc không phải là điều có sẵn. Hạnh phúc đến từ chính những hành vi của bạn. (Happiness is not something ready made. It comes from your own actions.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Giữ tâm thanh tịnh, ý chí vững bền thì có thể hiểu thấu lẽ đạo, như lau chùi tấm gương sạch hết dơ bẩn, tự nhiên được sáng trong.Kinh Bốn mươi hai chương
Hãy nhớ rằng hạnh phúc nhất không phải là những người có được nhiều hơn, mà chính là những người cho đi nhiều hơn. (Remember that the happiest people are not those getting more, but those giving more.)H. Jackson Brown, Jr.

Trang chủ »» Danh mục »» TỦ SÁCH RỘNG MỞ TÂM HỒN »» Tổng quan về các pháp môn trong Phật giáo Tây Tạng »» Xem đối chiếu Anh Việt: Lần Chuyển Pháp Luân thứ hai »»

Tổng quan về các pháp môn trong Phật giáo Tây Tạng
»» Xem đối chiếu Anh Việt: Lần Chuyển Pháp Luân thứ hai

(Lượt xem: 2.550)
Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục 

       

Font chữ:
Font chữ:

Lần Chuyển Pháp Luân thứ hai

Trong lần chuyển pháp luân thứ hai, đức Phật thuyết giảng các kinh hệ Bát-nhã Ba-la-mật-đa, hay trí tuệ viên mãn, trên đỉnh núi Linh Thứu, bên ngoài thành Vương Xá.

Lần Chuyển pháp luân thứ hai nên được xem như mở rộng thêm các đề mục đã được thuyết giảng trong lần Chuyển pháp luân thứ nhất. Trong lần chuyển pháp luân này, đức Phật không chỉ thuyết giảng sự thật về khổ đau, rằng đau khổ cần phải được nhận biết đúng thật, mà còn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc nhận biết cả khổ đau của bản thân cũng như của tất cả chúng sinh, nên ý nghĩa được mở rộng hơn nhiều. Khi thuyết giảng về nguồn gốc của khổ đau trong lần chuyển pháp luân này, đức Phật không chỉ nói riêng đến những cảm xúc phiền não, mà còn chỉ ra những chủng tử vi tế do chúng để lại trong tâm thức, nên sự giảng giải lần này thâm diệu hơn.

Diệt đế hay sự chấm dứt khổ đau cũng được giảng giải một cách sâu sắc hơn rất nhiều. Trong lần Chuyển pháp luân thứ nhất, sự chấm dứt khổ đau chỉ đơn thuần được nhận diện, nhưng trong Kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa đức Phật giảng giải hết sức chi tiết về bản chất của sự chấm dứt khổ đau và các đặc trưng của trạng thái này. Ngài mô tả con đường tu tập có thể giúp chấm dứt mọi khổ đau và cũng mô tả trạng thái chấm dứt hoàn toàn mọi khổ đau được gọi là diệt độ đó là như thế nào.

Tương tự, Đạo đế hay con đường tu tập cũng được giảng giải một cách sâu sắc hơn trong Kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa. Đức Phật đã chỉ dạy một con đường duy nhất bao gồm hết thảy sự chứng ngộ tánh Không, chân tánh của vạn pháp, kết hợp với lòng bi mẫn và tâm thức giác ngộ cùng với tâm nguyện vị tha muốn đạt đến giác ngộ vì lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Vì đức Phật thuyết giảng về sự hợp nhất cả phương tiện và trí tuệ nên chúng ta thấy rằng lần chuyển pháp luân này đã mở rộng và phát triển dựa trên lần chuyển pháp luân thứ nhất.

Mặc dù trong lần chuyển pháp luân thứ hai Tứ diệu đế được giảng giải một cách thâm diệu hơn, nhưng như vậy không phải là vì có những đặc điểm nào đó đã không được giảng giải trong lần thứ nhất. Một lý do như thế là không thể chấp nhận, vì có nhiều đề tài được các ngoại đạo giảng giải mà không được giảng giải trong đạo Phật, nhưng điều đó không có nghĩa là [giáo lý của] ngoại đạo thâm diệu hơn đạo Phật. Lần chuyển pháp luân thứ hai giảng giải và phát triển một số khía cạnh của Tứ diệu đế vốn chưa được giảng giải trong lần thứ nhất, nhưng không hề mâu thuẫn với cấu trúc chung của con đường tu tập theo đạo Phật như đã được trình bày trong lần thứ nhất. Vì thế mà thuyết giảng trong lần thứ hai này được cho là thâm diệu hơn.

Dù vậy, trong các giảng luận về lần chuyển pháp luân thứ hai cũng có một số diễn đạt nào đó quả đúng là mâu thuẫn với cấu trúc chung của con đường tu tập như đã mô tả trong lần thứ nhất, vì thế mà giáo lý Đại thừa đề cập đến 2 nhóm kinh điển. Một số kinh điển được nhận hiểu qua giá trị bề mặt và được xem là đúng thật về mặt ngữ nghĩa, trong khi một số kinh điển khác đòi hỏi phải có sự nhận hiểu sâu sắc hơn. Do đó, dựa theo Tứ y cứ của Đại thừa, chúng ta phân chia kinh điển thành 2 nhóm: kinh điển liễu nghĩa, với ý nghĩa quyết định rốt ráo, và kinh điển bất liễu nghĩa, với ý nghĩa cần được nhận hiểu sâu sắc hơn.

Tứ y cứ bao gồm các chỉ dẫn: y theo giáo pháp, không y theo cá nhân; đối với giáo pháp thì y theo ý nghĩa, không y theo ngôn ngữ; y theo kinh điển liễu nghĩa, không y theo kinh bất liễu nghĩa; và y theo trí tuệ nhận hiểu sâu xa, không y theo tri thức của sự nhận biết thông thường.

Phương pháp tiếp cận này được thấy ngay trong những lời Phật dạy. Ngài nói: “Này các tỳ-kheo, các bậc trí giả, đừng chấp nhận những gì ta nói chỉ vì lòng tôn kính đối với ta, mà trước hết phải phân tích, khảo sát nghiêm ngặt những lời ấy.”

Trong lần chuyển pháp luân thứ hai với các kinh thuộc hệ thống Bát-nhã, đức Phật đã giảng giải sâu xa hơn về đối tượng của sự dứt trừ, đặc biệt là trong mối quan hệ với tánh Không, một cách tinh tế và sâu rộng hơn. Vì thế, phương pháp tiếp cận của Đại thừa là nhận hiểu các kinh hệ Bát-nhã theo hai mức độ: ý nghĩa văn tự, liên quan đến sự trình bày về tánh Không, và ý nghĩa tiềm ẩn liên quan đến sự giảng giải sâu kín về các giai đoạn trên đường tu tập.

The Second Turning of the Wheel of Dharma

In the second turning of the wheel of dharma, the Buddha taught the Perfection of Wisdom or Prajnaparamita sutras, on Vultures Peak, outside Rajgir.

The second turning of the second wheel of dharma should be seen as expanding upon the topics which the Buddha had expounded during the first turning of the wheel. In the second turning, he taught not only the truth of suffering, that suffering should be recognized as suffering, but emphasized the importance of identifying both your own suffering as well as that of all sentient beings, so it is much more extensive. When he taught the origin of suffering in the second turning of the wheel of dharma, he referred not to the disturbing emotions alone, but also to the subtle imprints they leave behind, so this explanation is more profound.

The truth of cessation is also explained much more profoundly. In the first turning of the wheel of dharma cessation is merely identified, whereas in the Perfection of Wisdom sutras the Buddha explains the nature of this cessation and its characteristics in great detail. He describes the path by which sufferings can be ceased and what the actual state called cessation is.

The truth of the path is similarly dealt with more profoundly in the Perfection of Wisdom Sutras. The Buddha taught a unique path comprising the realization of emptiness, the true nature of all phenomena, combined with compassion and the mind of enlightenment, the altruistic wish to achieve enlightenment for the sake of all sentient beings. Because he spoke of this union of method and wisdom in the second wheel of dharma, we find that the second turning expands and develops on the first turning of the wheel of the dharma.

Although the four noble truths were explained more profoundly during the second turning of the wheel of dharma, this is not because certain features were explained in the second that were not explained in the first.That cannot be the reason, because many topics are explained in non Buddhist systems which are not explained in Buddhism, but that does not mean that other systems are more profound than Buddhism. The second turning of the wheel of dharma explains and develops certain aspects of the four noble truths, which were not explained in the first turning of the wheel, but which do not contradict the general structure of the Buddhist path described in that first discourse. Therefore, the explanation found in the second is said to be more profound.

Yet, in the discourses of the second turning of the wheel we also find certain presentations that do contradict the general structure of the path as described in the first, thus the great vehicle speaks of two categories of sutras, some which are taken at face value and are thought of as literally true, whereas others require further interpretation. So, based on the great vehicle approach of the four reliances, we divide the sutras into two categories, the definitive and the interpretable.

These four reliances consist of advice to rely on the teaching, not on the person; within the teachings rely on the meaning, not on mere words; rely on definitive sutras, not those requiring interpretation; and rely on the deeper understanding of wisdom, not on the knowledge of ordinary awareness.

This approach can be found in the Buddha's own words, as when he said, '0, Bhikshus and wise men, do not accept what I say just out of respect for me, but first subject it to analysis and rigorous examination.'

In the second turning of the wheel of dharma, the Perfection of Wisdom sutras, the Buddha further explained the subject of cessation, particularly with regard to emptiness, in a more elaborate and extensive way. Therefore, the great vehicle approach is to interpret those sutras on two levels: the literal meaning, which concerns the presentation of emptiness, and the hidden meaning which concerns the latent explanation of the stages of the path.

    « Xem chương trước «      « Sách này có 14 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này

Quý vị đang truy cập từ IP 54.224.118.247 (920680183) và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Phúc Hoàng. Rộng Mở Tâm Hồn VĨNH HỮU Rộng Mở Tâm Hồn Trương Ngọc Trân Rộng Mở Tâm Hồn Trandiep Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thiên Rộng Mở Tâm Hồn MinhTung2018 Rộng Mở Tâm Hồn Mong Linh Rộng Mở Tâm Hồn Minh Hữu Rộng Mở Tâm Hồn Trân Dũng Rộng Mở Tâm Hồn Lương Vĩnh Phúc Rộng Mở Tâm Hồn Minhvu Rộng Mở Tâm Hồn Hộ Chánh Rộng Mở Tâm Hồn Võ trần thanh vũ Rộng Mở Tâm Hồn hoangphonggdct Rộng Mở Tâm Hồn Ngô Văn Khiêm Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Huyền Rộng Mở Tâm Hồn huyentrang Rộng Mở Tâm Hồn bui sy Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Lộc 1959 Rộng Mở Tâm Hồn VUONG THI KIM NGAN Rộng Mở Tâm Hồn ThuỷPhan Rộng Mở Tâm Hồn oai thang Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Hạnh - Tứ Nương Rộng Mở Tâm Hồn thonghuynh85 Rộng Mở Tâm Hồn Thuận Quang Rộng Mở Tâm Hồn hangnguyenhanu08 Rộng Mở Tâm Hồn Cao Thi Hien Rộng Mở Tâm Hồn sss Rộng Mở Tâm Hồn BUTNHUAPVC Rộng Mở Tâm Hồn Lê Thị Hồng Lâm Rộng Mở Tâm Hồn Hoàng Quốc Nam Rộng Mở Tâm Hồn bacsinhthucnghiem Rộng Mở Tâm Hồn Chiếu Mai Rộng Mở Tâm Hồn Thiện-nhân62 Rộng Mở Tâm Hồn Trương Thị Ái Ngọc Rộng Mở Tâm Hồn Cao viết hải Rộng Mở Tâm Hồn kimthi Rộng Mở Tâm Hồn Hạnh Ngọc CPM Rộng Mở Tâm Hồn huuloc Rộng Mở Tâm Hồn aditthana ... ...

Việt Nam (8.509 lượt xem) - Hoa Kỳ (827 lượt xem) - Hong Kong (304 lượt xem) - Central African Republic (111 lượt xem) - Nhật Bản (63 lượt xem) - Australia (34 lượt xem) - Đức quốc (19 lượt xem) - Pháp quốc (18 lượt xem) - Phần Lan (15 lượt xem) - Hà Lan (5 lượt xem) - Thái Lan (2 lượt xem) - Na-uy (2 lượt xem) - ... ...