Không làm các việc ác, thành tựu các hạnh lành, giữ tâm ý trong sạch, chính lời chư Phật dạy.Kinh Đại Bát Niết-bàn
Chúng ta có thể sống không có tôn giáo hoặc thiền định, nhưng không thể tồn tại nếu không có tình người.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Ngay cả khi ta không tin có thế giới nào khác, không có sự tưởng thưởng hay trừng phạt trong tương lai đối với những hành động tốt hoặc xấu, ta vẫn có thể sống hạnh phúc bằng cách không để mình rơi vào sự thù hận, ác ý và lo lắng. (Even if (one believes) there is no other world, no future reward for good actions or punishment for evil ones, still in this very life one can live happily, by keeping oneself free from hatred, ill will, and anxiety.)Lời Phật dạy (Kinh Kesamutti)
Bạn có thể lừa dối mọi người trong một lúc nào đó, hoặc có thể lừa dối một số người mãi mãi, nhưng bạn không thể lừa dối tất cả mọi người mãi mãi. (You can fool all the people some of the time, and some of the people all the time, but you cannot fool all the people all the time.)Abraham Lincoln
Rời bỏ uế trược, khéo nghiêm trì giới luật, sống khắc kỷ và chân thật, người như thế mới xứng đáng mặc áo cà-sa.Kinh Pháp cú (Kệ số 10)
Đôi khi ta e ngại về cái giá phải trả để hoàn thiện bản thân, nhưng không biết rằng cái giá của sự không hoàn thiện lại còn đắt hơn!Sưu tầm
Các sinh vật đang sống trên địa cầu này, dù là người hay vật, là để cống hiến theo cách riêng của mình, cho cái đẹp và sự thịnh vượng của thế giới.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Ta như thầy thuốc, biết bệnh cho thuốc. Người bệnh chịu uống thuốc ấy hay không, chẳng phải lỗi thầy thuốc. Lại cũng như người khéo chỉ đường, chỉ cho mọi người con đường tốt. Nghe rồi mà chẳng đi theo, thật chẳng phải lỗi người chỉ đường.Kinh Lời dạy cuối cùng
"Nó mắng tôi, đánh tôi, Nó thắng tôi, cướp tôi." Ai ôm hiềm hận ấy, hận thù không thể nguôi.Kinh Pháp cú (Kệ số 3)
Hãy sống như thể bạn chỉ còn một ngày để sống và học hỏi như thể bạn sẽ không bao giờ chết. (Live as if you were to die tomorrow. Learn as if you were to live forever. )Mahatma Gandhi

Trang chủ »» Danh mục »» TỦ SÁCH RỘNG MỞ TÂM HỒN »» Bản đồ tu Phật - Tập 2 »» Luật tông »»

Bản đồ tu Phật - Tập 2
»» Luật tông

(Lượt xem: 40)
Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục 

       

Bản đồ tu Phật - Tập 2 - Luật tông

Font chữ:


SÁCH AMAZON



Mua bản sách in

CON ĐƯỜNG TU PHẬT THỨ NHẤT TRONG 10 TÔNG

Luật tông

1. Duyên khởi lập tông

Tông này dùng Luật làm chỗ căn cứ, nên gọi là Luật tông. Đức Phật khi còn tại thế, tùy căn cơ, tùy hoàn cảnh mà chế ra nhiều loại giới luật để răn dạy đệ tử, hóa độ chúng sinh. Sau khi Ngài nhập Niết-bàn, các đại đệ tử của Ngài, như Ưu-ba-li là vị tinh thông về giới luật, đứng lên pháp tọa trong kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất, để tụng đọc lại những giới luật mà đức Phật đã chế ra. Lần kết tập này chưa biên chép thành kinh điển, nên ngài Ưu-ba-li phải đọc đi đọc lại đến 80 lần, đến nỗi mỗi người trong hội nghị đều thuộc lòng. Do đó, mới có tên gọi là “bát thập tụng luật”. Về sau, tuần tự theo thời gian, nguyên thủy Phật giáo lần hồi chia ra làm nhiều nhánh, hay bộ phái. Mỗi bộ phái đều theo một bộ luật riêng. Trong số các bộ luật này, bộ được nói đến và áp dụng nhiều nhất là các bộ: Thập tụng, Tứ phần, Tăng ký, Ngũ phần.

Những bộ luật này được truyền sang Trung Hoa và phiên dịch ra Hán văn. Đến đời Đường, ngài Trí Thủ luật sư chú giải các bộ ấy, và đệ tử của ngài là Đạo Tuyên luật sư, nhận thấy trong các bộ ấy, bộ luật Tứ phần là thích hợp với căn cơ người Trung hoa, nên đã căn cứ vào bộ luật này để lập ra Luật tông. Ngài ĐạoTuyên là người ở Chung Nam sơn, nên người đời cũng gọi tông này là “Chung Nam sơn tôn”, để phân biệt với các Luật tông khác, như của các ngài Pháp Lệ bên phái Hữu tướng bộ, hay ngài Hoài Tố ở Đông Pháp.

Trong các tông này, chỉ có Luật tông của ngài Chung Nam sơn là thạnh hành hơn hết và được truyền bá cho đến bây giờ, vì nó dung hòa cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa.

2. Tông chỉ và đặc điểm của Luật tôn

Phàm một tổ chức, một công việc gì đúng đắn cũng đều phải tuân theo những quy luật nhất định. Hơn tất cả, sự tu hành lại càng phải tuân theo những giới luật nghiêm minh. Như chúng ta đã biết trong giáo lý căn bản, nghiệp là động lực chính của vũ trụ nhân sinh. Nghiệp định đoạt tất cả đời sống của chúng ta. Nghiệp có ba loại: nghiệp của hành động, nghiệp của lời nói và nghiệp của ý nghĩ. Nếu những nghiệp ấy được thanh tịnh, không tạo ra các ác, thì ta không thọ quả báo sanh tử luân hồi. Không có quả báo sanh tử luân hồi thì tất nhiên là được giải thoát. Muốn các nghiệp được thanh tịnh thì ta phải giữ gìn giới luật. Giữ gìn giới luật, chính là một phương pháp tu hành trong nhiều phương pháp mà Phật đã chế ra. Phương pháp này rất thiết thực và rất hiệu nghiệm đối với Phật tử chúng ta:

Giữ giới không sát nhơn hại vật, hiện đời không làm người hung dữ, khỏi bị tù tội, về sau khỏi đọa trong ba đường dữ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và khỏi bị người giết hại, đó là tu.

Giữ giới không trộm cướp, thì hiện đời làm người lương thiện, khỏi bị giam cầm xiềng xích, đời sau không mắc quả báo, bị người giựt của cướp đồ, đó là tu.

Giữ giới không tà dâm, hiện thời thành người tốt, gia đình mình và người không bị rầy rà đánh đập, khổ sở vì ghen tương, đó là tu.

Giữ giới không nói dối, không nói láo xược, thèo lẽo, thêm bớt, đâm thọc, không nói hung ác và thô tục, thì không bị người khinh khi, lại được sự kính trọng, đó là tu.

Giữ giới không cờ bạc, hút xách, rượu chè, thì khỏi mất tiền, thiếu nợ, khỏi say sưa, làm điều tội lỗi và khỏi bị người khinh bỉ, trí huệ tăng trưởng, đó là tu.

Nói một cách tổng quát, giữ một giới là ngăn ngừa một điều tội lỗi, và thêm một điều tốt; giữ nhiều giới là ngăn ngừa được nhiều điều tội lỗi và thêm được nhiều điều tốt. Bởi thế, nên giữ giới luật là phương pháp tu không xa thực tế và rất cần thiết cho các Phật tử cầu đạo giải thoát.

Nhờ giữ giới luật không làm các việc tội lỗi, nên tâm được “định”; do tâm định nên phát sanh ra trí tuệ sáng suốt. Nhờ có trí huệ sáng suốt nên phá trừ được vô minh, si ám và minh tâm kiến tánh thành Phật.

Người tu tại gia có giữ giới, mới thành Phật tử chơn chánh. Người xuất gia thọ Sa-di, có giữ giới mới là chơn tu. Thầy tỳ-kheo có giữ giới mới là Tỳ-kheo thanh tịnh. Bồ-tát có giữ giới mới là chơn Bồ Tát. Bởi thế nên trong ba môn vô lậu học (giới, định, huệ), “giới” là đứng đầu hết cả.

Tông này sở dĩ lập ra là nhằm vào lợi ích thiết thực và chắc chắn của giới luật, như đã trình bày ở trên.

3. Các loại giới luật

Giới luật có nhiều từng bực, tùy theo căn cơ, tùy theo giới tu sĩ, tùy theo sự phát nguyện của kẻ tu hành mà áp dụng. Nhưng nói một cách tổng quát thì giới luật có thể phân chia làm hai loại lớn là: giới luật của Tiểu thừa và giới luật của Đại thừa.

Những giới luật nào có tánh cách tiêu cực, tư lợi, chỉ có mục đích chính là tránh tội lỗi cho riêng mình là thuộc về giới Tiểu thừa. Tất nhiên trong khi giữ giới cho riêng mình, thì người khác cũng được lợi, như giữ giới không trộm cướp, thì mình được lợi là kềm giữ lòng tham, mà người khác cũng được lợi là khỏi phải bị cái khổ vì tiếc của đã mất. Mặc dù thế, giới không trộm cướp cũng chỉ liệt vào giới Tiểu thừa, vì trong khi giữ cho mình; còn cái lợi cho người chỉ là ảnh hưởng gián tiếp của người ấy. Những giới như: Ngũ giới (năm giới chế cho người tại gia); Bát quan trai giới (tám giới chế cho người tại gia tập sống như người xuất gia); Sa-di và Sa-di-ni giới (10 giới chế cho người mới xuất gia); Thức-xoa (sáu điều nữ học giới); Tỳ-kheo giới (250 giới) và Tỳ-kheo-ni giới (348 giới) là những giới thuộc về Tiểu thừa.

Những giới luật nào có tánh cách tích cực, nhằm vào mục đích lợi tha hơn tư lợi thì thuộc vào Đại thừa giới. Những giới thuộc Đại thừa như: 10 giới trọng và 48 giới khinh của Bồ-tát; Tam tụ tịnh giới (gồm có: Nhiếp luật nghi giới là không làm các việc ác; Nhiếp thiện pháp giới là làm những việc lành; Nhiêu ích hữu tình giới là làm ích lợi cho chúng sinh, như làm các việc có tánh cách từ thiện, xã hội, v.v...)

Nếu đứng về phương diện hành trì mà phân loại, giới luật lại có thể chia làm hai phần lớn: một thuộc về chỉ trì, nghĩa là ngăn dứt các ác nghiệp; một thuộc về tác trì, nghĩa là hành động theo các thiện nghiệp.

Về chỉ trì, có hai bộ giới bổn:

Tỳ-kheo giới bổn, gồm có 250 giới, chia làm tám nhóm là: 1/ Ba-la-di (bốn giới), 2/ Tăng tàn (13 giới), 3/ Bất định (hai giới), 4/ Xả đọa (30 giới), 5/ Đơn đọa (90 giới), 6/ Đề-xá-ni (bốn giới), 7/ Chúng học (100 giới), 8/ Diệt tránh (bảy giới). Hai trăm năm mươi giới này, có thể chia thành tám nhóm như trên, nhưng cũng có thể tùy nghi chia là năm nhóm (ngũ thiên), sáu nhóm (lục tụ), hay bảy nhóm (thất tụ).

Tỳ-kheo-ni giới bổn gồm có 348 giới chia làm bảy nhóm là: 1/ Ba-la-di (tám giới), 2/ Tăng tàn (17 giới), 3/ Xả đọa (30 giới), 4/ Đơn đọa (178 giới), 5/ Đề-xá-ni (tám giới), 6/ Chúng học (100 giới), 7/ Diệt tránh (bảy giới). Ba trăm bốn mươi tám giới này, có thể chia làm bảy món như trên, nhưng cũng có thể tùy nghi chia thành năm nhóm, sau nhóm hay bảy nhóm như bên tăng.

(Ghi chú: Chúng tôi chỉ giới thiệu những danh từ của các giới luật tăng, ni chứ không nói rõ hơn, vì theo luật Phật, người thọ giới ở cấp bực nào thì chỉ biết giới luật của cấp bậc ấy mà thôi.)

Giới Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni trên này gọi là Cụ túc giới, nghĩa là những giới đem lại người thọ vô lượng giới hạnh phước đức. Nhưng 250 hay 348 giới chưa phải nhiều. Đó chỉ là mới tóm thâu những giới luật chính, làm giềng mối cho sự trì phạm mà thôi. Nếu kể cho hết giới luật thì về “lượng” sánh đồng hư không, về “cảnh” lại lan khắp cả pháp giới. Nếu kể về bực trung, thì bên Tăng có đến 3.000 oai nghi, 80.000 tế hạnh; bên Ni có đến 80.000 oai nghi 120.000 tế hạnh.

Vì sao Phật lập ra nhiều giới như thế? Vì mỗi một giới là ngăn ngừa một điều tội lỗi, mà con người chúng ta là phàm phu, từ tâm niệm cho đến hành vi, có không biết bao nhiêu điều tội lỗi, nên Phật phải chế ra có vô số giới luật để ngăn ngừa.

Về tác trì, gồm có 20 kiền-độ. Kiền-độ nghĩa là phẩm loại, điều luật (Khanda). Hai mươi kiền-độ là: Thọ giới kiền-độ, Thuyết giới kiền-độ, An cư kiền-độ, Tự tứ kiền-độ, v.v. Sự chia ra Chỉ trì và Tác trì là cốt cho dễ phân biệt trong khi giữ giới, chứ thật ra nói một cách rốt ráo thì trong chỉ có tác, trong tác có chỉ, không thể nói một cách dứt khoát được.

4. Các danh từ và phương pháp thực hành cần biết

Như chúng ta đã thấy ở trên, giới luật của Phật chế ra rất nhiều; do đó, danh từ chuyên môn và cách thức giữ giới cũng rất phức tạp. Vậy muốn giữ giới được kết quả, trước tiên phải biết những điều sau đây:

Sao gọi là “danh, chủng, tánh, tướng”? Danh là tên (danh từ) nghĩa là tên mỗi giới, như “bất sát sinh, bất thâu đạo”, v.v. Chủng là chủng loại, hay nhóm; như chúng ta đã thấy ở phần chia các giới của Tăng, Ni: Ba-la-di, Tăng tàn, v.v. Tánh là tâm tánh, là tánh chất ở bên trong; như người giữ giới, trong tâm niệm không nghĩ tưởng đến việc sát, đạo, dâm, vọng, v.v., hoặc thấy người phạm cũng không sanh tâm vui mừng hay liên tưởng đến. Giữ gìn tâm tánh ở bên trong được thanh tịnh như vậy, gọi là “tánh giới”. Tướng là hình tướng ở bên ngoài; như bên trong đã không nghĩ đến sát sanh, trộm cướp (tánh giới) v.v., mà bên ngoài cũng không thực hiện những điều tội ác ấy, gọi là “tướng giới”.

Tóm lại, mỗi khi phạm một điều tội lỗi, người giữ gìn giới phải biết tội ấy tên là gì (danh), sát hay đạo, v.v., thuộc về loại nào (chủng) Ba-la-di hay Tăng tàn, v.v., thuộc về nội tâm (tánh) hay ngoài thân (tướng), và cuối cùng hành giả phải biết tội ấy, theo luật, phải trị phạt như thế nào mới được thanh tịnh?

Sao gọi là “khai, giá, trì, phạm”? Khai là mở, cho làm. Giá là ngăn cấm, không cho làm. Như khi Phật còn tại thế, Ngài cấm các vị Tỳ-kheo leo cây; đó là “giá”. Nhưng về sau, có vị Tỳ-kheo đi vào rừng, bị ác thú rượt, mà không dám leo lên cây để tránh, vì sợ phạm giới, và cuối cùng phải bị ác thú hại. Từ đó Phật dạy “nếu có duyên sự thì được leo cây” như thế gọi là ‘khai’. Một thí dụ thứ hai: người Phật tử phải giữ gìn không uống rượu; đó là “Giá”. Nhưng khi bị bịnh nặng, nếu cần rượu hòa vào thuốc, uống mới lành bệnh, thì tạm được dùng; đó là “Khai”. Nhưng trước khi uống, phải bạch với chư Tăng.

Trì là giữ gìn; như khi đã thọ giới mà giữ gìn cho được thanh tịnh thì gọi là “Trì”. Phạm là phạm giới; như đã thọ giới rồi mà không giữ gìn giới thì gọi là “Phạm”.

Tóm lại, trong khi tu hành giữ giới luật, hành giả luôn luôn quan sát mỗi một hành vi hằng ngày của mình, xét xem một cách sáng suốt thế nào là “Trì”; thế nào là “Phạm”; trong trường hợp nào, và giới nào được “Khai”; trong trường hợp nào và giới nào không được “Khai”, v.v... Nói một cách tổng quát, khi đã thọ giới thì phải “Trì”. Nếu không “Trì” là “Phạm”. Tuy thế, nếu vì lòng từ bi, vì lợi ích chung, hay vì trí tuệ thúc đẩy, thì có thể “Khai” mà không phạm tội. Nhưng nếu vì tâm nhiễm ô, vì phiền não thúc đẩy mà “Khai” thì là “Phạm”.

Sao gọi là “chỉ trì, tác phạm và tác trì, chỉ phạm”? Chỉ trì là nói về phương diện các điều ác quyết giữ gìn không gây tội lỗi. Tác phạm là nói về phương diện các điều ác, đáng lẽ phải giữ gìn, mà lại không giữ được, cho nên phải phạm tội lỗi. Tác trì là nói về phương diện các điều thiện cần phải làm, mới là giữ giới. Chỉ phạm là nói về phương diện các điều thiện, nếu đình chỉ không làm, là phạm giới. Thí dụ: Về tội ăn trộm, nếu không làm là chỉ trì, nếu làm là tác phạm. Trái lại, về hạnh bố thí, nếu làm là tác trì, nếu không làm là chỉ phạm.

Sao gọi là tánh tội và giá tội, hay tánh giới và giá giới? Tánh tội là tội sẵn có trong bản tánh chúng sanh, như sát, đạo, dâm, vọng. Bổn tánh này có sẵn trong tâm tánh chúng sanh từ vô thỉ đến nay, hễ có chúng sanh là có chúng nó. Mỗi người, không cần ai dạy bảo, không cần học tập, đều biết sát, đạo, dâm, vọng. Vì thế cho nên gọi là tánh tội.

Giá tội là tội không sẵn có trong bản tánh, nhưng do hoàn cảnh, do tập nhiễm mà phát sinh; như tội uống rượu chẳng hạn. Nói một cách tổng quát, ngoài bốn tánh tội là sát, đạo, dâm, vọng, còn bao nhiêu tội khác đều thuộc giá tội cả.

Tánh giới là giới từ bản tánh, để ngăn ngừa bổn tánh tội là sát, đạo, dâm, vọng. Giới này rất quan trọng, nhưng cũng rất khó giữ. Giữ được bốn giới này thì sự tu hành tất sẽ kết quả và con đường giải thoát chắc chắn sẽ chờ đón hành giả.

Giá giới là để ngăn ngừa tội lỗi do hoàn cảnh huân tập mà phát sinh. Những giới này ít quan trọng hơn những giới trên. Nhưng muốn giữ được tánh giới một cách ít khó khăn, phải cần giữ giá giới. Như người muốn đốn cây đại thụ, trước tiên phải chặt dần ngành ngọn; như người dụng binh giỏi, trước khi muốn chiếm một đô thị lớn, phải ngăn chận các con đường đi vào đô thị ấy.

5. Kết luận

Như chúng ta đã rõ, mục đích của giáo pháp mà đức Phật đã chỉ bày cho chúng ta là để được minh tâm, kiến tánh và thành Phật. Tất cả các tông phái, mặc dù có chủ trương và đặcđiểm khác nhau, nhưng mục đích cuối cùng cũng đều là một: Giác ngộ và thành Phật.

Luật tông cũng không đi ra ngoài mụcđích trên, mặc dù phương pháp có khác. Phần nhiều các tông khác thì phải hiểu rồi mới tu; Luật tông, trái lại, chủ trương: hãy tu đi rồi sẽ hiểu, hãy giữ gìn giới luật cho nghiêm chỉnh, thì tâm sẽ định tĩnh, thanh tịnh; tâm đã thanh tịnh, thì trí huệ sẽ sáng suốt, chân tâm sẽ hiện bày, Phật tánh sẽ phát lộ.

Thật là một chủ trương rất thiết thực, mà kết quả lại chắc chắn! Những kẻ học rộng biết nhiều mà không giữ giới cũng chẳng khác gì ngọn đèn trước gió, có thể sáng lắm, nhưng không biết sẽ tắt khi nào. Trái lại, kẻ học ít biết hẹp mà giữ giới một cách chân thành, thì cũng như ngọn đèn có ống khói, khi mới thắp còn lu, nhưng không tắt, và càng cháy lâu càng sáng tỏ.

Vì những lý lẽ trình bảy ở trên, Luật tông đều thích hợp với mọi căn cơ, nhất là với những căn cơ chậm lụt. Ở đời chúng ta thường thấy phần nhiều những người có căn trí lanh lẹ, hiểu nhanh biết lẹ, nhưng vì hay ỷ vào sức mình, không chịu đặt mình vào khuôn phép kỷ luật, nên cuối cùng, chẳng thu hoạch được kết quả gì tốt đẹp cả. Trái lại, những kẻ có căn trí tầm thường, nhiều khi chậm lụt nữa, nhưng lại dễ thành công trên đường đời cũng như trên đường đạo, vì họ biết thủ phận, chịu khó khép mình vào kỷ luật, không tự mãn, tự cao. Những đệ tử của Phật, có ai có một địa vị xã hội hạ tiện (đi gánh phân) và một căn trí thấp thỏi như ngài Ưu-ba-li? Thế mà ngài Ưu-ba-li đã trở thành một đại đệ tử của Phật, đã thành một bậc hiền thánh, chỉ nhờ nghiêm trì giới luật! Chúng ta đây, địa vị xã hội và căn trí chắc chắn không kém ngài Ưu-ba-li, lẽ nào chúng ta không thu hoạch được thành quả tốt đẹp như ngài, nếu chúng ta cũng tập nghiêm trì giới luật như ngài?

Trước khi chấm dứt về tông này, chúng tôi xin mời quí Phật tử hãy suy xét kỹ lưỡng và tự trả lời mấy câu hỏi giản dị sau đây: Tu như thế này có cầu kỳ, xa thực tế không? Đối với mình, con đường tu về Luật tông trong “Bản đồ tu Phật” này có cần thiết, thích hợp với mình không?

HẾT PHẦN LUẬT TÔNG

    « Xem chương trước «      « Sách này có 10 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này

DONATION

Quý vị đang truy cập từ IP 3.94.200.93 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Tiến Dũng Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thiên Rộng Mở Tâm Hồn Bá láp Rộng Mở Tâm Hồn tony coi Rộng Mở Tâm Hồn Ngọc Châu Rộng Mở Tâm Hồn tdpc Rộng Mở Tâm Hồn Quang Phu Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Lộc 1959 Rộng Mở Tâm Hồn Bạch Trúc Rộng Mở Tâm Hồn Minh Hữu Rộng Mở Tâm Hồn Bùi T Dũng Rộng Mở Tâm Hồn Hồ Đăng Dạ Rộng Mở Tâm Hồn Tutam Rộng Mở Tâm Hồn Thiện Diệu Rộng Mở Tâm Hồn Tánh Không 1965 Rộng Mở Tâm Hồn Benson Rộng Mở Tâm Hồn Lê Duy Hùng Rộng Mở Tâm Hồn Metta Rộng Mở Tâm Hồn TrongBui Rộng Mở Tâm Hồn phianhhuynh Rộng Mở Tâm Hồn Lam Viên Quang Mai Rộng Mở Tâm Hồn Quang Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Sĩ Long Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Trí 1975 Rộng Mở Tâm Hồn HuyAsoka Rộng Mở Tâm Hồn GIÁC THƯỜNG Rộng Mở Tâm Hồn Hagiang Rộng Mở Tâm Hồn Quocthangws Rộng Mở Tâm Hồn Thu BÌnh Rộng Mở Tâm Hồn Vạn vật vô thường Rộng Mở Tâm Hồn Sonny View Rộng Mở Tâm Hồn Pascal Bui Rộng Mở Tâm Hồn Onggia Rộng Mở Tâm Hồn sentrang Rộng Mở Tâm Hồn nguyenlq Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Huyền Rộng Mở Tâm Hồn lethuy Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Hạnh - Tứ Nương Rộng Mở Tâm Hồn Janegado Rộng Mở Tâm Hồn nguyễn văn tuyên ... ...

Việt Nam (3.165 lượt xem) - Hoa Kỳ (621 lượt xem) - Đức quốc (151 lượt xem) - Ma-cao (92 lượt xem) - Australia (73 lượt xem) - Trung Hoa (23 lượt xem) - Pháp quốc (21 lượt xem) - French Southern Territories (20 lượt xem) - Central African Republic (2 lượt xem) - ... ...