Hãy lắng nghe trước khi nói. Hãy suy ngẫm trước khi viết. Hãy kiếm tiền trước khi tiêu pha. Hãy dành dụm trước khi nghỉ hưu. Hãy khảo sát trước khi đầu tư. Hãy chờ đợi trước khi phê phán. Hãy tha thứ trước khi cầu nguyện. Hãy cố gắng trước khi bỏ cuộc. Và hãy cho đi trước khi từ giã cuộc đời này. (Before you speak, listen. Before you write, think. Before you spend, earn. Before you retire, save. Before you invest, investigate. Before you critisize, wait. Before you pray, forgive. Before you quit, try. Before you die, give. )Sưu tầm
Tôi không thể thay đổi hướng gió, nhưng tôi có thể điều chỉnh cánh buồm để luôn đi đến đích. (I can't change the direction of the wind, but I can adjust my sails to always reach my destination.)Jimmy Dean
Khi tự tin vào chính mình, chúng ta có được bí quyết đầu tiên của sự thành công. (When we believe in ourselves we have the first secret of success. )Norman Vincent Peale
Ví như người mù sờ voi, tuy họ mô tả đúng thật như chỗ sờ biết, nhưng ta thật không thể nhờ đó mà biết rõ hình thể con voi.Kinh Đại Bát Niết-bàn
Để chế ngự bản thân, ta sử dụng khối óc; để chế ngự người khác, hãy sử dụng trái tim. (To handle yourself, use your head; to handle others, use your heart. )Donald A. Laird
Lấy sự nghe biết nhiều, luyến mến nơi đạo, ắt khó mà hiểu đạo. Bền chí phụng sự theo đạo thì mới hiểu thấu đạo rất sâu rộng.Kinh Bốn mươi hai chương
Như đá tảng kiên cố, không gió nào lay động, cũng vậy, giữa khen chê, người trí không dao động.Kinh Pháp cú (Kệ số 81)
Cuộc sống xem như chấm dứt vào ngày mà chúng ta bắt đầu im lặng trước những điều đáng nói. (Our lives begin to end the day we become silent about things that matter. )Martin Luther King Jr.
Kẻ làm điều ác là tự chuốc lấy việc dữ cho mình.Kinh Bốn mươi hai chương
Hãy tự mình làm những điều mình khuyên dạy người khác. Kinh Pháp cú

Trang chủ »» Danh mục »» SÁCH ANH NGỮ HOẶC SONG NGỮ ANH-VIỆT »» Tứ diệu đế »» Xem đối chiếu Anh Việt: Chương I: Dẫn nhập »»

Tứ diệu đế
»» Xem đối chiếu Anh Việt: Chương I: Dẫn nhập


Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục 

       

Font chữ:
Font chữ:

Chương I: Dẫn nhập

Bây giờ, chúng ta nói về giáo pháp Tứ diệu đế của đạo Phật. Nghi vấn đầu tiên có thể đưa ra là: Tại sao các chân lý này lại được xem là cơ bản nhất, và trong thực tế, tại sao đức Phật lại giảng dạy những chân lý này?

Để trả lời được vấn đề này, ta phải liên hệ giáo pháp Tứ diệu đế với kinh nghiệm của chính ta trong kiếp người. Một sự thật hoàn toàn tự nhiên trong cuộc sống là: Mỗi người chúng ta đều có một khát vọng bẩm sinh luôn tìm kiếm hạnh phúc và muốn vượt qua khổ đau. Đây là một bản năng sẵn có, nên ta không cần phải chứng minh sự tồn tại của nó. Hạnh phúc là điều mà tất cả chúng ta đều khao khát muốn đạt được, và dĩ nhiên chúng ta có quyền đáp ứng sự khao khát đó. Cũng vậy, khổ đau là điều mà ai cũng mong muốn tránh khỏi, và chúng ta cũng có quyền nỗ lực để vượt qua đau khổ. Nếu như sự khát khao đạt được hạnh phúc và vượt qua đau khổ là bản chất sẵn có của mọi sinh vật, và cũng là một nhu cầu tự nhiên, vậy thì vấn đề là chúng ta phải nỗ lực như thế nào để đáp ứng sự khao khát đó.

Vấn đề này đưa ta đến với giáo pháp Tứ diệu đế; vì giáo pháp này giúp ta hiểu được mối quan hệ giữa hai loại sự kiện: nguyên nhân và kết quả. Một mặt, ta phải gánh chịu khổ đau, nhưng khổ đau không phải tự nhiên mà có, mà được sinh khởi từ các nguyên nhân và điều kiện của chính nó. Mặt khác, ta được huởng hạnh phúc, thì hạnh phúc cũng chỉ có được từ những nguyên nhân và điều kiện của chính nó.

Trong đạo Phật, khi nói đến hạnh phúc ta không chỉ hiểu một cách giới hạn như một trạng thái cảm xúc. Chắc chắn sự tịch diệt (trạng thái chấm đứt hoàn toàn mọi đau khổ) không phải là một trạng thái của cảm xúc, nhưng ta có thể nói rằng tịch diệt là dạng cao tột nhất của hạnh phúc. Bởi vì, theo định nghĩa thì tịch diệt là hoàn toàn thoát khỏi mọi khổ đau. Nhưng trạng thái tịch diệt, hay hạnh phúc chân thật, lại cũng không phải tự nhiên xuất hiện hay hoàn toàn không có nguyên do. Dĩ nhiên, đây là một điểm hết sức tinh tế, vì theo quan điểm Phật giáo thì tịch diệt không phải là một sự kiện duyên sinh, nên không thể nói là nó được tạo thành hay gây ra bởi bất cứ điều gì. Thế nhưng, sự hiện thực hóa hay đạt tới tịch diệt lại quả thật là phụ thuộc vào con đường tu tập và nỗ lực của cá nhân. Bạn không thể đạt tới trạng thái tịch diệt nếu không có sự nỗ lực. Do đó, trong ý nghĩa này ta có thể nói rằng con đường dẫn tới sự tịch diệt là nguyên nhân của tịch diệt.

Giáo pháp Tứ diệu đế phân biệt một cách rõ ràng hai loại nguyên nhân và kết quả: những nguyên nhân gây ra đau khổ và những nguyên nhân tạo ra hạnh phúc. Bằng cách chỉ ra cách phân biệt những nguyên nhân này trong cuộc sống, mục đích của giáo pháp này không gì khác hơn là giúp ta đáp ứng khát vọng sâu xa nhất của mình – đạt được hạnh phúc và vượt qua đau khổ.

Khi đã nhận hiểu được lý do đức Phật truyền giảng giáo pháp Tứ diệu đế, có thể chúng ta sẽ tiếp tục tự hỏi về lý do của việc sắp xếp các chân lý đó theo một trình tự đặc biệt. Tại sao Tứ diệu đế được dạy theo một trật tự nhất định, bắt đầu về sự khổ (Khổ đế) rồi tiếp tục với nguyên nhân của sự khổ (Tập khổ đế)... Về điểm này, ta nên hiểu rằng trình tự giảng dạy giáo pháp Tứ diệu đế không liên quan gì đến trình tự sinh khởi của sự vật trong thực tại. Đúng hơn thì trình tự đó liên quan đến việc một người nên khởi đầu như thế nào để thực hành đạo Phật và đạt tới sự chứng ngộ nhờ vào sự thực hành đó.

Trong Tối thượng luận,[15] ngài Di-lặc (Maitreya) cho rằng có bốn giai đoạn để chữa một chứng bệnh:

Cũng giống như một căn bệnh cần được chẩn đoán, những nguyên nhân gây bệnh cần được loại trừ, một trạng thái khoẻ mạnh cần đạt tới và phương pháp chữa trị cần được áp dụng; cũng vậy, sự đau khổ cần phải được nhận biết, các nguyên nhân gây ra đau khổ cần phải được loại trừ, sự chấm dứt của đau khổ cần phải đạt tới và con đường tu tập để dứt khổ cần phải được thực hành.[16]

Ngài Di-lặc đã sử dụng sự tương tự của một người bệnh để giải thích phương cách đạt được sự giác ngộ dựa trên giáo pháp Tứ diệu đế. Để một bệnh nhân được lành bệnh, trước hết người đó phải biết mình đang mang bệnh, nếu không thì sẽ không có mong muốn chữa bệnh. Một khi đã nhận biết mình có bệnh, thì tất nhiên là bạn sẽ cố tìm biết những nguyên nhân gây bệnh và những gì làm cho bệnh nặng thêm. Khi đã xác định được những điều này, bạn sẽ biết được liệu căn bệnh có thể chữa khỏi hay không, và bạn sẽ khởi lên ước muốn được khỏi bệnh. Thật ra cũng không chỉ đơn thuần là một ước muốn, vì một khi đã nhận biết được các điều kiện đã dẫn đến căn bệnh, niềm khao khát được khỏi bệnh sẽ càng mạnh mẽ hơn nhiều vì sự nhận biết đó mang lại cho bạn sự an tâm và tin chắc rằng sẽ vượt qua được căn bệnh. Với lòng tin chắc đó, bạn sẽ sẵn lòng dùng đến tất cả các loại thuốc men và phương pháp điều trị cần thiết.

Cũng giống như vậy, ngay từ đầu niềm khao khát được thoát khỏi sự khổ đau sẽ không sinh khởi trừ phi bạn nhận biết được là mình đang đau khổ. Bởi vậy, sự thực hành trước tiên của người Phật tử là nhận biết trạng thái hiện thời của mình là khổ đau, thất vọng và không thỏa mãn, trong tiếng Phạn gọi là duḥkha. Chỉ khi đó bạn mới muốn nhìn vào các nguyên nhân và điều kiện đã gây ra đau khổ.

Điều rất quan trọng là phải hiểu được bối cảnh mà trong đó Phật giáo nhấn mạnh tới việc nhận ra rằng tất cả chúng ta đều ở trong trạng thái khổ đau, nếu không thì sẽ có nguy cơ hiểu nhầm quan điểm của Phật giáo, cho rằng đó là những tư tưởng u ám, một chủ nghĩa bi quan về cơ bản và gần như là một nỗi ám ảnh về sự khổ đau trong thực tại.

Lý do mà đức Phật hết sức nhấn mạnh vào việc phát triển một hiểu biết sâu sắc về bản chất của khổ đau là vì còn có một khả năng thay thế – có một lối thoát, và chúng ta thật sự có khả năng tự giải thoát khỏi mọi khổ đau. Đây là lý do vì sao việc nhận biết được bản chất của khổ đau là hết sức thiết yếu. Bởi vì, sự thấu hiểu về khổ đau càng vững vàng và sâu sắc thì sự khao khát được giải thoát khỏi khổ đau sẽ càng mạnh mẽ hơn. Do vậy, sự nhấn mạnh của Phật giáo về bản chất khổ đau nên được nhìn trong bối cảnh rộng hơn như thế, với sự đánh giá cao về khả năng hoàn toàn giải thoát khỏi khổ đau. Nếu ta không nghĩ đến sự giải thoát, thì việc dành nhiều thời gian để quán chiếu về khổ đau cũng là hoàn toàn vô nghĩa.

Chúng ta có thể nói rằng, hai loại nguyên nhân và kết quả mà tôi vừa đề cập trên đây, một mặt chỉ đến tiến trình của những chúng sinh chưa giác ngộ, liên quan đến chuỗi nhân quả giữa khổ đau và nguồn gốc của nó; mặt khác lại chỉ đến tiến trình của những chúng sinh giác ngộ, gắn liền với những liên kết nhân quả giữa con đường tu tập và sự tịch diệt hoàn toàn. Khi đức Phật diễn giải chi tiết về hai quá trình này, Ngài đã chỉ dạy giáo pháp về Thập nhị nhân duyên, trong tiếng Phạn gọi là 12 nidna (dvdaśanidna).[17]

Các nidna là mười hai mối liên hệ trong chu kì của cuộc sống đi từ vô minh[18] đến hành (hay “tác ý”),[19] đến thức... và tiếp tục cho đến già và chết (lão tử). Khi tiến trình nhân quả của một chúng sinh chưa giác ngộ được mô tả chi tiết – nghĩa là một đời sống trong vòng đau khổ và những nguyên nhân của đau khổ – thì trình tự của 12 nhân duyên bắt đầu từ vô minh, tiếp tục với hành, thức... vân vân. Trình tự này mô tả cách thức một chúng sinh, do nơi những nguyên nhân và điều kiện nhất định, phải rơi vào tiến trình của một đời sống mê muội.

Mặc dù vậy, cũng một chúng sinh đó, nếu có thực hành những sự tu tập tâm linh nào đó, thì có thể làm đảo ngược tiến trình này, và trình tự ngược lại đó chính là trình tự của tiến trình dẫn tới giác ngộ. Chẳng hạn, nếu chuỗi tương tục của vô minh kết thúc thì chuỗi tương tục của các hành vi tác ý cũng sẽ dừng. Nếu những hành vi đó đã dừng lại, thì chỗ dựa của những hành vi ấy là thức cũng sẽ dừng lại, và cứ tiếp tục như vậy...

Bạn có thể thấy rằng, trong một ý nghĩa nào đó, giáo pháp Thập nhị nhân duyên là một sự trình bày chi tiết về hai loại nguyên nhân và điều kiện đã được mô tả trong Tứ diệu đế.

One: Introducing

Now let us turn to the Buddhist teaching on the Four Noble Truths. The first question we might ask is why these Truths are considered to be so fundamental, and why, in fact, Buddha taught them at all.

In order to answer this, we have to relate the Four Noble Truths to our own experience as individual human beings. It is a fact - a natural fact of life - that each one of us has an innate desire to seek happiness and to overcome suffering. This is something very instinctive, and there is no need to prove it is there. Happiness is something that we all aspire to achieve, and of course we naturally have a right to fulfil that aspiration. In the same way, suffering is something everybody wishes to avoid, and we also have the right to try to overcome suffering. So if this aspiration achieve happiness and overcome suffering is our natural state of being, and our natural quest, the question is how we should go about fulfilling that aspiration.

This leads us to the teachings on the Four Noble Truths, which provide an understanding of the relationship between two sets of events: causes and their effects. On one side we have suffering, but suffering does not come from nowhere, it arises as a result of its own causes and conditions. On the other side we have happiness, which also arises from its own particular set of causes and conditions.

Now when we speak of happiness in Buddhism, our understanding of it is not confined to a state of feeling. Certainly cessation (the total cessation of suffering) is not a state of feeling, and yet we could say that cessation is the highest form of happiness because it is, by definition, complete freedom from suffering. Here again cessation, or true happiness, does not come into being from nowhere or without any cause. This is a subtle point, of course, because from the Buddhist perspective cessation is not a conditioned event, so it cannot be said to be actually produced, or caused, by anything. However, the actualization or attainment of cessation does depend on the path and on an individual’s effort. You cannot attain cessation without making an effort. In this sense we can therefore say that the path that leads to cessation is the cause of cessation.

The teachings on the Four Noble Truths clearly distinguish two sets of causes and effects: those causes which produce suffering, and those which produce happiness. By showing us how to distinguish these in our own lives, the teachings aim at nothing less than to enable us to fulfil our deepest aspiration - to be happy and to overcome suffering.

Once we have realized that this is why Buddha taught the Four Noble Truths, we might go on to ask ourselves the reason for their specific sequence: why are the Four Noble Truths taught in a particular order, starting with suffering, continuing with the origin of suffering, and so on? On this point we should understand that the order in which the Four Noble Truths are taught has nothing to do with the order in which things arise in reality. Rather, it is related to the way an individual should go about practising the Buddhist path, and attain realizations based on that practice.

In the Uttaratantra, Maitreya states that there are four stages to curing an illness.

Just as the disease need be diagnosed, its cause eliminated, a healthy state achieved and the remedy implemented, so also should suffering, its causes, its cessation and the path be known, removed, attained and undertaken.

Maitreya uses the analogy of a sick person to explain the way in which realizations based on the Four Noble Truths can be attained. In order for a sick person to get well, the first step is that he or she must know that he is ill, otherwise the desire to be cured will not arise. Once you have acknowledged that you are sick, then naturally you will try to find out what led to it and what makes your condition even worse. When you have identified these, you will gain an understanding of whether or not the illness can be cured, and a wish to be free from the illness will arise in you. In fact this is not just a mere wish, because once you have recognized the conditions that led to your illness, your desire to be free of it will be much stronger since that knowledge will give you a confidence and conviction that you can overcome the illness. With that conviction, you will want to take all the medications and remedies necessary.

In the same way, unless you know that you are suffering, your desire to be free from suffering will not arise in the first place. So the first step we must take as practising Buddhists is to recognize our present state as duhkha or suffering, frustration and unsatisfactoriness. Only then will we wish to look into the causes and conditions that give rise to suffering.

It is very important to understand the context of the Buddhist emphasis on recognizing that we are all in a state of suffering, otherwise there is a danger we could misunderstand the Buddhist outlook, and think that it involves rather morbid thinking, a basic pessimism and almost an obsessiveness about the reality of suffering.

The reason why Buddha laid so much emphasis on developing insight into the nature of suffering is because there is an alternative - there is a way out, it is actually possible to free oneself from it. This is why it is so crucial to realize the nature of suffering, because the stronger and deeper your insight into suffering is, the stronger your aspiration to gain freedom from it becomes. So the Buddhist emphasis on the nature of suffering should be seen within this wider perspective, where there is an appreciation of the possibility of complete freedom from suffering. If we had no concept of liberation, then to spend so much time reflecting on suffering would be utterly pointless.

We could say that the two sets of causes and effects I mentioned earlier refer, on the one hand, to the process of an unenlightened existence, which relates to the causal chain between suffering and its origins, and, on the other hand, to the process of an enlightened existence which pertains to the causal links between the path and true cessation. When the Buddha elaborated on these two processes, he taught what is called the doctrine of the Twelve Links of Dependent Origination, or Twelve Nidanas.

The nidanas are the Twelve Links in the cycle of existence, which goes from ignorance, to volition, to consciousness, and so on, all the way to old age and death. When the causal process of an unenlightened existence is described in detail - that is, a life which is led within the framework of suffering and its origin - then the sequence of the Twelve Links begins with ignorance, and proceeds with volition, consciousness and so on. This sequence describes how an individual sentient being, as a result of certain causes and conditions, enters into the process of unenlightened existence.

However, if that same individual engages in certain spiritual practices, he or she can reverse this process, and the alternative sequence is that of the process which leads to enlightenment. For example, if the continuum of ignorance comes to an end then the continuum of volitional actions will cease. If that ceases, then the consciousness that serves as the support for such actions will cease; and so on.

You can see that the teachings on the Twelve Links of Dependent Origination are in some sense an elaboration on the two sets of causes and conditions described by the Four Noble Truths.

    « Xem chương trước «      « Sách này có 13 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này

Lượt xem: 3.227  

Quý vị đang truy cập từ IP 54.224.18.114 (920654450) và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Viên Rộng Mở Tâm Hồn xuân đỉnh Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Đăng Trọng Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thiên Rộng Mở Tâm Hồn Tâm Đăng Rộng Mở Tâm Hồn Không Xã Rộng Mở Tâm Hồn Cu anh Rộng Mở Tâm Hồn Dat Ngoc Rộng Mở Tâm Hồn hatran Rộng Mở Tâm Hồn cat khanh Rộng Mở Tâm Hồn HUỆ HƯƠNG Rộng Mở Tâm Hồn baole Rộng Mở Tâm Hồn Thái Phác Rộng Mở Tâm Hồn Jade Rộng Mở Tâm Hồn NGUYEN THI MY TRINH Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Huyền Rộng Mở Tâm Hồn Ltp00485 Rộng Mở Tâm Hồn Định Huệ - Quảng Thiện Rộng Mở Tâm Hồn Beajimin Jp Rộng Mở Tâm Hồn duc ho Rộng Mở Tâm Hồn Tri Huynh Rộng Mở Tâm Hồn Konchog Dondrup Samten Rộng Mở Tâm Hồn hieudepzai Rộng Mở Tâm Hồn Nguyen Thi Ngoc dung Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Trí 1975 Rộng Mở Tâm Hồn Phi Thiên Rộng Mở Tâm Hồn Lương Trường Rộng Mở Tâm Hồn tuan huynh Rộng Mở Tâm Hồn phú nguyên Rộng Mở Tâm Hồn minhanhcon Rộng Mở Tâm Hồn Minh Hoa 237 Rộng Mở Tâm Hồn Giao Rộng Mở Tâm Hồn Baoquan Rộng Mở Tâm Hồn Rongvang61 Rộng Mở Tâm Hồn Amalo Sati Rộng Mở Tâm Hồn Thích Nữ Hạnh Như Rộng Mở Tâm Hồn phước Hoà Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Long Rộng Mở Tâm Hồn habichthuy Rộng Mở Tâm Hồn Quoc Phan ... ...

Việt Nam (17.238 lượt xem) - Hoa Kỳ (5.950 lượt xem) - Australia (222 lượt xem) - Pháp quốc (69 lượt xem) - Central African Republic (61 lượt xem) - Trung Hoa (46 lượt xem) - Ấn Độ (32 lượt xem) - Đức quốc (21 lượt xem) - Mayotte (20 lượt xem) - Anh quốc (8 lượt xem) - Benin (8 lượt xem) - Cambodia (7 lượt xem) - Đài Loan (1 lượt xem) - Ivory Coast (1 lượt xem) - Sri Lanka (1 lượt xem) - Nga (1 lượt xem) - Nhật Bản (1 lượt xem) - Singapore (1 lượt xem) - ... ...